Định tâm An thần thang DỨT ĐIỂM mất ngủ kinh niên TỪNG GIAI ĐOẠN. Với công thức hoàn chỉnh, bài thuốc trị mất ngủ của Trung tâm Thuốc dân tộc, không đem lại tác dụng tức thời mà hiệu quả theo từng giai đoạn. Đây chính là nguyên tắc điều trị từ từ, chậm mà
3. Bệnh não Nếu cơ thể thường xuyên bị giật mình khi ngủ, khi thức giấc bạn sẽ đột ngột đau đầu, chóng mặt, buồn nôn, điều đó có nghĩa là có thể xuất hiện vấn đề về não như khối u, bệnh thoái hóa, di chứng đột quỵ, di chứng chấn thương sọ não,… Cách khắc phục hiện tượng giật mình khi ngủ?
Tìm việc làm nhanh chóng từ 20.000 nhà tuyển dụng uy tín, hàng chục ngàn việc làm chất lượng với hơn 60 ngành nghề tại website tìm kiếm việc làm TimViecNhanh.com. Phường Đa Kao, Quận 1, TP Hồ Chí Minh. Chi nhánh: Tầng 12A, Tòa nhà Center Building, Số 1 Nguyễn Huy Tưởng, Quận
Nguyên nhân bệnh lý bao gồm: Trẻ bị ốm ( ho, sốt, cảm cúm,), hội chứng trào ngược dạ dày, thiếu canxi, tổn thương hệ thần kinh trung ương, bệnh lý tim bẩm sinh, là những nguyên nhân làm cho trẻ ngủ không ngon giấc dễ bị giật mình. Bố mẹ cần theo dõi để thấy tình trạng kéo dài bao lâu và thấy bất thường thì cần đi khám bác sĩ chuyên khoa để được tư vấn.
Thay vì đặt đồng hồ báo thức gần giường ngủ, hãy để nó ở góc xa trong phòng. Bằng cách này, bạn sẽ phải ngồi dậy và ra khỏi giường để tắt chuông báo thức. Một khi đã tung chăn bước ra khỏi giường, động lực tập thể dục sẽ trỗi dậy.
27 thg 5, 2020 — Các bệnh lý gây đau tức ngực bên phải · Chấn thương ở vùng ngực · Ợ nóng hoặc trào ngược axit dạ dày · Viêm màng phổi · Viêm tụy · Viêm ở tim · Tăng … => Đọc thêm. => Đọc thêm. => Đọc thêm. Giới thiệu: Rohto Nhật Bản. Nước nhỏ mắt Rohto Nhật
Muốn chống co giật hay chuột rút cần phải đến thầy thuốc chuyên khoa để xác định xem nguyên nhân của triệu chứng này là bệnh gì, để từ đó có những biện pháp điều trị thích hợp, chính xác. Trong chế độ ăn hằng ngày nên chú ý sử dụng các loại thực phẩm giàu kali và can-xi như sữa và chuối chín
Hắn giật mình. Sao nhà mình lại bị theo dõi nhỉ. Chắc là vì mình đi tù. Thật khốn khổ, nhục nhã. Chị Chân tìm lục và cầm ra cổng một mảnh giấy bìa gì đó Hắn hỏi, khi chị trở về: - Theo dõi gì hở chị? - à. Theo dõi mua công nghệ phẩm. Hắn nhẹ cả người.
Cách Vay Tiền Trên Momo. Các bệnh tim mạch luôn nằm trong nhóm bệnh lý gây tử vong cao, đe dọa nghiêm trọng và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cuộc sống của người bệnh. Tổ chức Y tế Thế giới WHO cho biết, mỗi năm có khoảng 20 triệu người trên thế giới tử vong vì các bệnh liên quan đến tim mạch. 1Riêng tại Việt Nam, thống kê năm 2016 có khoảng người tử vong vì bệnh tim, chiếm đến 31% trong tổng số ca tử vong của cả nước. Theo thống kê của Viện Tim mạch quốc gia, cứ 4 người trưởng thành sẽ có 1 người bị tăng huyết áp 2. Trong đó, tăng huyết áp được biết đến là yếu tố nguy cơ chính gây bệnh động mạch vành và đột quỵ. Tỷ lệ nhồi máu cơ tim và đột quỵ ở người bệnh có tăng huyết áp gấp 3 lần và 4 lần so với người khỏe mạnh. Đây là con số đáng báo biết gì về bệnh tim mạchTriệu chứng của bệnh tim mạch là gì?1. Khó thở2. Đau ngực3. Thường xuyên mệt mỏi4. Ho dai dẳng5. Buồn nôn, chán ăn6. Nhịp tim nhanh, mạch đập không đều7. Hay lo lắng8. Chóng mặt và ngất xỉu9. Hiện tượng phù nềPhòng ngừa bệnh tim mạch bằng cách nào?Xây dựng chế độ ăn uống khoa học, kiểm soát tốt hàm lượng cholesterol trong máuKiểm soát tốt huyết ápGiữ mức cân nặng cân đối, tránh béo phìTập luyện thể dục thể thao điều độCó giấc ngủ ngon, tránh căng thẳngKiểm tra sức khỏe định kỳCần biết gì về bệnh tim mạchBệnh tim mạch tiếng Anh là Cardiovascular Disease – viết tắt là CVD là tên gọi chung cho các bệnh của tim và mạch máu, bao gồm bệnh động mạch vành, các bệnh van tim, các bệnh tim bẩm sinh, bệnh động mạch chủ, các bệnh động mạch ngoại biên, suy tim, bệnh thấp tim, bệnh cơ tim, các rối loạn nhịp tim…Các yếu tố nguy cơ chính gây ra bao gồm hút thuốc lá, đái tháo đường, béo phì, ít hoạt động thể lực, hoặc có chế độ ăn uống không lành mạnh, tần suất sử dụng rượu bia ở mức cao. Những yếu tố này liên quan chủ yếu tới các thói quen sinh hoạt, làm việc, ăn uống…và hoàn toàn có thể điều chỉnh để phòng ngừa không bị các bệnh tim Nguyễn Anh Dũng, Trưởng khoa Phẫu thuật Tim – Lồng ngực, Mạch máu, Trung tâm Tim mạch, Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh cho biết, triệu chứng chính của các bệnh lý tim mạch thường gặp gồm1. Khó thởKhó thở có thể gặp khi gắng sức, nặng hơn có thể gặp cả khi nghỉ ngơi. Đôi khi, người bệnh không thể nằm xuống mà phải ngồi để thở. Triệu chứng này thể hiện tình trạng suy tim, khi chức năng co bóp của tim không đảm bảo tống máu đi nuôi cơ thể. 2. Đau ngựcĐau ngực do bệnh tim là biểu hiện của tình trạng cơ tim bị thiếu máu. Người bệnh có cảm giác bị đè nặng tức ở ngực trái, ở trên rốn… Có thể biểu hiện với cơn đau thắt ở ngực lan lên cằm, lên vai hay ra sau lưng. Các biểu hiện đau này thường có tính chu kỳ, xảy ra khi người bệnh gắng sức hay bị stress, hết khi nghỉ ngơi. Những cơn đau thắt ngực có thể kéo dài khoảng 5-10 phút và có xu hướng lặp cáo người bệnh khi gặp những cơn đau ngực kéo dài cần nghỉ ngơi tuyệt đối, đến ngay cơ sở y tế để được xác định chẩn đoán và can thiệp kịp thời vì đây cũng có thể là dấu hiệu của nhồi máu cơ tim cấp. 3. Thường xuyên mệt mỏiKhi bạn thường xuyên cảm thấy mệt mỏi, kiệt sức sau các hoạt động sinh hoạt thường ngày, thậm chí ngay sau khi ngủ dậy thì có thể đây là dấu hiệu của chứng thiếu máu đến não, tim và Ho dai dẳngSuy tim làm cho máu không được bơm đi nuôi cơ thể, đồng thời máu bị ứ lại ở phổi. Dịch, máu thoát mạch vào mô kẽ và vào các phế nang làm cho người bệnh bị ho thành cơn kéo dài và dai dẳng. Ho nhiều hơn khi người bệnh nằm xuống. Người bệnh tim cũng có thể bị những cơn ho do tác dụng phụ của thuốc điều trị suy tim như một số thuốc ức chế men Buồn nôn, chán ănCó rất nhiều bệnh lý gây ra tình trạng buồn nôn, chán ăn… nhưng đây cũng là triệu chứng điển hình của bệnh suy tim. Người bệnh thường cảm giác no tức bụng do máu bị ứ ở gan và các cơ quan tiêu hóa. Tình trạng này làm cho gan và các cơ quan tiêu hóa cũng bị giảm chức năng làm cho người bệnh chán ăn và buồn nôn. 6. Nhịp tim nhanh, mạch đập không đềuNguyên nhân chính dẫn đến hiện tượng này là do tim phải đập nhanh hơn để bù lại việc suy giảm chức năng bơm máu. Người bệnh có thể hồi hộp, nghe rõ nhịp tim đập nhanh như đánh trống ở Hay lo lắngTriệu chứng này thường bị bỏ quên do người bệnh chủ quan xem thường, hay nhầm lẫn với các dấu hiệu lo lắng, căng thẳng bình thường mà không biết rằng đây chính là dấu hiệu phổ biến cảnh báo chứng suy tim. Người bệnh thường có triệu chứng thở nhanh, tim đập bất thường, lòng bàn tay đổ nhiều mồ hôi…8. Chóng mặt và ngất xỉuĐây là triệu chứng thường tim mạch gặp ở những bệnh nhân bị gián đoạn hoặc rối loạn nhịp tim ở mức độ nghiêm trọng. “Nhiều bệnh nhân thường xuyên gặp phải các triệu chứng kể trên nhưng thường chủ quan, nghĩ rằng các triệu chứng này là bình thường, thoáng qua rồi nhanh chóng bỏ qua các dấu hiệu ban đầu, đến khi bệnh trở nặng mới đến thăm khám. Điều này khiến cho quá trình điều trị trở nên khó khăn, không đạt hiệu quả cao nhưng lại tốn kém rất nhiều chi phí. Do đó, khuyến cáo người bệnh cần đến ngay cơ sở y tế có chuyên khoa tim mạch càng sớm càng tốt để được thăm khám, chẩn đoán chính xác và điều trị hiệu quả nhất, tránh bỏ lỡ thời gian vàng trong điều trị bệnh”, bác sĩ Nguyễn Anh Dũng nhấn Hiện tượng phù nềSau khi ngủ dậy nếu bạn cảm thấy mặt bị căng phù, mí mắt trĩu nặng, hoặc có thể chân bị phù ở một vài thời điểm nhất định trong ngày, đột nhiên đi giày dép chật… thì hãy đến ngay cơ sở y tế để được kiểm tra, vì có thể đây là những triệu chứng của bệnh suy ngừa bệnh tim mạch bằng cách nào?Bệnh lý tim mạch có thể gây nguy hiểm cho người bệnh nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời. Các chuyên gia tim mạch khuyến cáo người bệnh nên ưu tiên thực hiện các biện pháp phòng bệnh hơn chữa bệnh, cụ thể làXây dựng chế độ ăn uống khoa học, kiểm soát tốt hàm lượng cholesterol trong máuHàm lượng cholesterol trong máu quá cao sẽ bám vào thành động mạch, lâu ngày khiến lòng động mạch bị hẹp lại, dẫn đến tình trạng tắc nghẽn động mạch, ngăn máu đến nuôi dưỡng tim và các cơ quan khác trong cơ thể, là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não cùng nhiều biến chứng nguy hiểm khác. Do đó, cần xây dựng và duy trì một chế độ ăn uống khoa học như bổ sung đầy đủ chất dinh dưỡng, ăn chín uống sôi, hạn chế chất ngọt và chất béo, nên ăn nhiều cá, thịt nạc và các loại rau củ quả,…Đồng thời. cần có kế hoạch theo dõi và kiểm soát chặt chẽ hàm lượng cholesterol trong soát tốt huyết ápCần xây dựng kế hoạch theo dõi và kiểm soát tốt các chỉ số huyết áp luôn ở mức ổn định. Trường hợp người bệnh cao huyết áp cần tham khảo ý kiến bác sĩ để có phương pháp điều trị, chăm sóc sức khỏe tốt hút thuốc láNghiên cứu cho thấy những chất độc hại trong thuốc lá có thể làm tổn thương các mạch máu và tim, có thể dẫn đến chứng xơ vữa động mạch 3. Đặc biệt, chất nicotin trong thuốc lá có thể làm tim đập nhanh, huyết áp tăng cao, gây tích tụ mỡ và đóng cục dẫn đến tắc nghẽn mạch. Do đó, các chuyên gia tim mạch khuyến cáo không hút thuốc lá để giữ cho trái tim bạn được khỏe mức cân nặng cân đối, tránh béo phìThống kê cho thấy những người béo phì có nguy cơ mắc bệnh lý tim mạch vì tim phải làm việc nhiều hơn để đảm bảo bơm máu nuôi dưỡng khối tế bào lớn của cơ thể. Phải hoạt động ở cường độ mạnh và lâu ngày, tim sẽ yếu dần đi. Do đó, cần có chế độ ăn uống và tập luyện khoa học để cân nặng luôn ở mức cân đối, tránh béo luyện thể dục thể thao điều độViệc tập luyện thể dục thể thao điều độ giúp điều hòa huyết áp và tim mạch, giúp tim co bóp được tốt hơn. Bạn có thể tham khảo ý kiến bác sĩ để chọn lựa những bài tập phù hợp sức khỏe và tình trạng của giấc ngủ ngon, tránh căng thẳngTình trạng thiếu ngủ kéo dài có thể dẫn đến các bệnh lý tim mạch như tăng huyết áp, suy tim và tiểu đường. Hay căng thẳng là nguyên nhân chính của bệnh nhồi máu cơ tim và nhiều bệnh lý nguy hiểm khác. Do đó, cần sắp xếp thời gian làm việc, các hoạt động trong ngày và nghỉ ngơi một cách hợp lý, đủ giấc. Luôn duy trì cơ thể ở trạng thái thoải mái, tránh căng thẳng là những biện pháp quan trọng phòng ngừa hiệu quả tra sức khỏe định kỳKiểm tra sức khỏe định kỳ để có thể kiểm soát một cách tốt nhất các chỉ số huyết áp, hàm lượng cholesterol trong máu, phát hiện sớm những bất thường nếu có là biện pháp hữu hiệu trong phòng ngừa các bệnh lý tim thực tế, các biểu hiện của bệnh tim ban đầu thường không rõ ràng, chỉ một số yếu tố rất nhỏ lại chính là tín hiệu cảnh báo triệu chứng tim mạch có nguy cơ biến chứng nguy hiểm. Do đó, chuyên gia khuyến cáo người bệnh khi nhận thấy những dấu hiệu bất thường hãy đến ngay cơ sở y tế để được can thiệp đúng cách và kịp thời.
HỏiChào bác sĩ. Em hay bị đánh trống ngực, khó thở ,hay giật mình,mỗi lần giật mình là tim đập rất nhanh, cảm giác lồng ngực ép xuống không thở được. Bác sĩ cho em hỏi hay bị đánh trống ngực, khó thở, giật mình có phải do bệnh tim mạch? Cảm ơn bác Thị Như Ngọc 1990Trả lờiĐược giải đáp bởi Khoa Khám bệnh & Nội khoa, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Hải bạn,Với câu hỏi “Hay bị đánh trống ngực, khó thở, giật mình có phải do bệnh tim mạch?”, bác sĩ xin giải đáp như sauĐau ngực là của nhiều nguyên nhân Bệnh tim mạch, bệnh cơ thành ngực, bệnh thần kinh liên sườn, bệnh lý về phổi và màng phổi,... Trường hợp bạn có đau ngực kèm theo khó thở và nhịp tim nhanh, cơn trống ngực thì cơn đau ngực này rất thận trọng là nguyên nhân từ bệnh lý tim mạch. Bạn cần đến khám chuyên khoa sâu về bệnh tim mạch để được bác sỹ khám và tư bạn còn thắc mắc về việc hay bị đánh trống ngực, khó thở, giật mình, bạn có thể đến bệnh viện thuộc Hệ thống Y tế Vinmec để kiểm tra và tư vấn thêm. Cảm ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đến Vinmec. Chúc bạn có thật nhiều sức trọng! Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng.
Không phải tất cả các vấn đề về tim đều có dấu hiệu cảnh báo rõ ràng. Một số triệu chứng đau tim thậm chí không xảy ra trong lồng ngực và không phải lúc nào cũng dễ dàng có thể nhận biết. Nếu nằm trong nhóm những người có nhiều nguy cơ mắc bệnh tim, thì bạn phải chú ý đến tất cả các dấu hiệu không bình thường xảy ra với trái tim của bạn. Đặc biệt coi chừng những vấn đề dưới đây. 1. Đau ngực Nó là dấu hiệu phổ biến nhất của bệnh tim, bạn có thể cảm thấy đau, căng hoặc có áp lực ở người có một cảm nhận khác nhau về việc đau ngực. Một số người nói đau ngực giống như có một con voi to lớn đang ngồi trên ngực họ. Những người khác lại nói rằng đau ngực – một sự chèn ép, đôi khi cảm giác như có sự thiêu đốt trong lồng giác khó chịu thường kéo dài một vài phút. Nó có thể xảy ra khi bạn đang nghỉ ngơi hoặc khi bạn đang vận động thể đó chỉ là một cơn đau rất ngắn, hoặc chỗ đó đau hơn khi bạn chạm hoặc đẩy vào nó thì đó có lẽ không phải là đau ra, hãy nhớ rằng bạn có thể có vấn đề về tim, thậm chí là đau tim mà không bị đau ngực. Điều đó đặc biệt phổ biến ở phụ nữ. 2. Buồn nôn, khó tiêu, chứng ợ nóng ợ chua hoặc đau dạ dày Một số người có những triệu chứng này khi bị đau tim. Họ thậm chí có thể nôn mửa. Triệu chứng này thường xuất hiện nhiều ở phụ nữ hơn là nam nhiên, bạn có thể bị đau bụng vì nhiều lý do không liên quan gì đến trái tim của bạn. Nguyên nhân của các triệu chứng đó có thể là do những thứ mà bạn đã ăn. Tuy nhiên, bạn vẫn cần lưu ý rằng các triệu chứng đó cũng có thể là dấu hiệu bệnh tim. Một số người bệnh lý tim mạch xuất hiện buồn nôn hoặc khó tiêu 3. Đau lan đến cánh tay Một triệu chứng đau tim kinh điển khác là đau lan xuống bên trái cơ đau có vẻ như bắt nguồn từ ngực sau đó lan dần ra ngoài; cũng có một số bệnh nhân chỉ thấy đau phần cánh tay nhưng khi kiểm tra thì mới biết là đau tim. 4. Bạn cảm thấy chóng mặt hoặc đầu óc quay cuồng Rất nhiều thứ có thể khiến bạn mất thăng bằng hoặc cảm thấy chóng mặt trong giây lát. Có thể là do bạn đã không ăn đủ, hoặc bạn đứng lên quá nếu bạn đột nhiên cảm thấy mất thăng bằng và cảm thấy đau ngực hoặc khó thở, hãy gọi bác sĩ ngay. Điều đó có thể có nghĩa là huyết áp của bạn đã giảm vì tim bạn không thể bơm theo cách cần thiết. 5. Đau họng hoặc đau quai hàm Đau họng hoặc đau quai hàm thường không liên quan đến tim. Nhiều khả năng, đó là do vấn đề về cơ bắp, cảm lạnh hoặc nếu bạn bị đau hoặc áp lực ở giữa ngực lan ra cổ họng hoặc hàm, đó có thể là dấu hiệu của một cơn đau tim. Đau họng có thể liên quan đến vấn đề của một cơn đau tim 6. Bạn dễ dàng bị kiệt sức Nếu bạn đột nhiên cảm thấy mệt mỏi hoặc thở dốc sau khi làm những việc mà trước đó bạn vẫn làm và chưa từng gặp vấn đề gì, lúc này hãy hẹn gặp bác sĩ ngay lập sức quá mức hoặc yếu đi mà không giải thích được, đôi khi kéo dài trong nhiều ngày, có thể là một dấu hiệu bệnh tim, đặc biệt là đối với phụ nữ. 7. Ngủ ngáy Ngáy một chút trong khi bạn ngủ là điều rất bình thường. Nhưng tiếng ngáy to bất thường nghe giống như đang thở hổn hển hoặc nghẹt thở có thể là dấu hiệu của chứng ngưng thở khi ngủ. Bạn có thể bị ngừng thở trong những khoảnh khắc ngắn ngủi, một vài lần trong đêm khi bạn vẫn đang ngủ. Điều này làm trái tim của bạn thêm căng thẳng. 8. Đổ mồ hôi Đổ mồ hôi mà không có lý do rõ ràng có thể báo hiệu một cơn đau tim. Nếu điều này xảy ra cùng với bất kỳ triệu chứng nào khác, hãy đến bệnh viện ngay lập tức. Đổ mồ hôi không có lý do cảnh báo bệnh lý tim mạch 9. Một cơn ho không dứt Trong hầu hết các trường hợp, đây không phải là dấu hiệu bệnh tim. Nhưng nếu bạn bị bệnh tim hoặc biết mình có nguy cơ, hãy đặc biệt chú ý đến khả năng bạn bị ho kéo dài tạo ra chất nhầy màu trắng hoặc hồng, đó có thể là dấu hiệu của bệnh suy tim. Điều này xảy ra khi tim không thể theo kịp nhu cầu của cơ thể, khiến máu rò rỉ trở lại vào phổi. Hãy hỏi bác sĩ của bạn để kiểm tra cơn ho. 10. Chân, bàn chân và mắt cá chân của bạn bị sưng Đây có thể là một dấu hiệu cho thấy tim bạn không bơm máu hiệu quả như bình tim không thể bơm đủ nhanh, máu sẽ chảy ngược trong tĩnh mạch và gây tim cũng có thể khiến thận khó loại bỏ nước và natri ra khỏi cơ thể, điều này có thể dẫn đến việc sưng phù. 11. Nhịp tim bất thường Đó là bình thường nếu trái tim của bạn đập nhanh khi bạn lo lắng hoặc phấn khích, nín thở hoặc thêm một nhịp một lần trong một khoảng thời gian nếu bạn cảm thấy tim mình đập nhanh hơn chỉ vài giây hoặc nếu điều đó xảy ra thường xuyên, hãy nói với bác sĩ của bạn. Khám tim mạch định kỳ giúp người bệnh sớm phát hiện bệnh lý Kiểm tra sức khỏe định kỳ giúp phát hiện sớm bệnh tật, từ đó có kế hoạch điều trị đạt kết quả tối ưu. Hiện tại, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec có các gói Khám sức khỏe tổng quát phù hợp với từng độ tuổi, giới tính và nhu cầu riêng của quý khách hàng với chính sách giá hợp lý, bao gồmGói khám sức khỏe tổng quát kim cươngGói khám sức khỏe tổng quát VipGói khám sức khỏe tổng quát đặc biệtGói khám sức khỏe tổng quát toàn diệnGói khám sức khỏe tổng quát tiêu chuẩnKết quả khám của người bệnh sẽ được trả về tận nhà. Sau khi nhận được kết quả khám sức khỏe tổng quát, nếu phát hiện các bệnh lý cần khám và điều trị chuyên sâu, Quý khách có thể sử dụng dịch vụ từ các chuyên khoa khác ngay tại Bệnh viện với chất lượng điều trị và dịch vụ khách hàng vượt trội. Khách hàng có thể gọi đến hotline các bệnh viện hoặc đăng ký tư vấn trực tuyến với bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec TẠI ĐÂY. Một cơn đau tim diễn ra như thế nào? XEM THÊM Khám lâm sàng tim mạch và những điều cần biết Thường xuyên mệt mỏi kèm thở dốc có nên đi khám không? Thở dốc, thở mạnh và đau ngực trái là triệu chứng bệnh gì?
HỏiCháu chào bác sĩ, năm nay cháu 13 tuổi. Cháu có tiền sử bị trầm cảm và một vài triệu chứng rối loạn tâm lý khác. Chi tiết hơn thì cháu mới vừa vượt qua giai đoạn đấy, cháu dần trở nên khép mình và im lặng hơn. Hơn nữa, bây giờ cháu còn đang viêm mũi họng. Ban đêm cháu cố ngủ nhưng mỗi lần dần chìm sâu vào giấc lại ho mạnh một cái, làm cháu tỉnh dậy, ban đêm bị tới gần chục lần nên cháu rất sợ. Ngoài ra, cháu cũng hay bị giật tay chân lúc ngủ trưa ở lớp nữa. Tìm hiểu về bệnh động kinh thì thấy cháu thấy có nhiều điểm chung, nhưng cháu vẫn chưa chắc chắn. Vậy hay giật mình khi ngủ có phải dấu hiệu bệnh động kinh không ạ? Mong bác sĩ tư vấn hỏi ẩn danhTrả lờiChào em! Đối với thắc mắc về vấn đề liệu Hay giật mình khi ngủ có phải dấu hiệu bệnh động kinh không? bác sĩ xin được giải đáp như sauHiện tại em không có triệu chứng của cơn động kinh, tuy nhiên do em có tiền sử bị trầm cảm nên em phải đi khám bác sĩ tâm thần để được điều trị. Ngoài ra, em cũng cần phải đi khám bác sĩ tai mũi họng tại các cơ sở Y tế uy tín hoặc bệnh viện thuộc Hệ thống Y tế Vinmec trên toàn quốc để điều trị bệnh viêm mũi cho emCảm ơn em đã tin tưởng và chia sẻ những lo lắng về tới Vinmec. Trân trọng! Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. Được giải đáp bởi Bác sĩ Huỳnh An Thiên - Khoa Khám bệnh & Nội khoa - Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Đà Nẵng
Cơn động kinh là sự phóng điện bất thường, không kiểm soát được xảy ra trong chất xám vỏ não và làm gián đoạn tạm thời chức năng bình thường của não. Cơn động kinh thường gây thay đổi nhận thức, những cảm giác bất thường, những vận động không tự chủ khu trú hoặc những cơn co giật co lan tỏa không tự chủ cơ vân. Chẩn đoán cơn động kinh mới khởi phát dựa vào lâm sàng, các kết quả chẩn đoán hình ảnh thần kinh, xét nghiệm máu và điện não đồ EEG, riêng các cơn động kinh đã được chẩn đoán trước đây thì cần xác định nồng độ thuốc chống co giật. Điều trị bao gồm loại bỏ nguyên nhân nếu có thể, thuốc chống co giật và phẫu thuật nếu thuốc không hiệu quả.Khoảng 2% người lớn bị một cơn động kinh tại một thời điểm nào đó trong cuộc đời. Hai phần ba số người này không bao giờ có cơn động kinh nào khác nữa. Thuật ngữ có thể gây nhầm động kinh còn gọi là bệnh co giật động kinh là một bệnh não mạn tính đặc trưng bởi các ≥ 2 cơn động kinh tự phát tái diễn tức là không liên quan đến các tác nhân gây căng thẳng có thể hồi phục và xảy ra cách nhau > 24 giờ. Một cơn co giật duy nhất không được coi là bệnh động kinh. Bệnh động kinh thường vô căn nhưng với các bệnh lý não khác nhau như các dị tật, đột quỵ và u có thể gây triệu chứng động kinh. Động kinh căn nguyên ẩn là bệnh động kinh do một nguyên nhân cụ thể, nhưng hiện tại nguyên nhân cụ thể đó vẫn chưa được cơn co giật căn nguyên tâm thần không phải động kinh các cơn giả động kinh là những triệu chứng biểu hiện giống các cơn động kinh ở bệnh nhân bị bệnh lý tâm thần nhưng các triệu chứng đó không liên quan đến sự phóng điện bất thường trong não. Độ tuổi từ 2 đến 14 Bệnh động kinh vô cănNgười cao tuổi Khối u và đột quỵTrong động kinh phản xạ, một bệnh lý hiếm gặp, các cơn động kinh được kích hoạt từ một kích thích bên ngoài, như âm thanh lặp đi lặp lại, đèn nhấp nháy, trò chơi điện tử, âm nhạc hoặc thậm chí chạm vào một số vị trí của cơ bệnh động kinh căn nguyên ẩn và thường trong động kinh kháng trị, một nguyên nhân hiếm gặp nhưng ngày càng được hiểu rõ hơn là viêm não kháng thụ thể NMDA N-metyl-d-aspartate, đặc biệt ở phụ nữ trẻ. Bệnh lý này cũng gây ra các triệu chứng tâm thần, rối loạn vận động và tăng lympho trong dịch não tủy CSF. U quái buồng trứng xuất hiện ở khoảng 60% phụ nữ có viêm não kháng thụ thể NMDA. Loại bỏ u quái nếu có và liệu pháp miễn dịch kiểm soát cơn co giật tốt hơn nhiều so với thuốc chống co giật. Phân loại ban đầu là theo loại khởi phát Lan tỏaKhởi phát tập trungKhông rõ khởi phátCác cơn động kinh khởi phát sau đó được phân loại theo mức độ nhận thức kiến thức về bản thân và môi trường. Mức độ nhận thức không được sử dụng để phân loại các cơn động kinh khởi phát toàn thể vì hầu hết các cơn động kinh này nhưng không phải tất cả làm giảm nhận cả các cơn động kinh sau đó được phân loại, nếu có thể, như Khởi động vận độngKhởi phát không vận độngSự đáp ứng không được sử dụng để phân loại các cơn động kinh, nhưng nó có thể hữu ích như là một mô tả. Sự đáp ứng có thể là nguyên vẹn hoặc suy giảm cho dù nhận thức có bị suy giảm hay không. Trong cơn động kinh khởi phát toàn thể, cơn co giật bắt nguồn từ các mạng lưới ở cả hai bán cầu. Nhận thức thường bị suy giảm, và ý thức thường bị kinh khởi phát toàn thể được phân loại là động kinh và động kinh không vận động. Tuy nhiên, co giật không vận động có thể liên quan đến hoạt động vận động. Trong cơn động kinh toàn thể-khởi phát, hoạt động vận động thường là hai bên kể từ khi khởi phát. Khi khởi phát vận động hai bên không đối xứng, việc xác định khởi phát là tập trung hay toàn thân có thể là khó động kinh khởi phát có thể được phân loại thêm theo loại động kinh Co giật tăng trương lực trước đây là co giật cấp namCo giật clonic giật liên tụcCo giật tăng trương lực cứng toàn thân liên quan đến tất cả các chi và không có cơn giật nhịp nhàngCơn động kinh mất trương lực mất trương lực cơCơn động kinh giật cơ giật không theo nhịpCơn giật cơ - giật - tăng trương lực - co giật giật cơ và các cơn co giật.Co giật múa giật mất trương lực giật múa giật sau đó là mất trương lựcCơn động kinh khởi phát toàn thân có thể được phân loại thêm theo loại động kinh được xác định bởi đặc điểm nổi bật sớm nhất Các cơn động kinh vắng ý thức điển hìnhĐộng kinh vắng mặt không điển hình ví dụ, khởi phát đột ngột hoặc chấm dứt đột ngộtcơn động kinh giật cơViêm cơ mi mắtTất cả các cơn động kinh vắng mặt đều là cơn động kinh khởi phát toàn thể. Những điều sau đây có thể giúp phân biệt cơn động kinh vắng mặt với cơn động kinh nhận thức suy giảm chức năng cục bộ, mặc dù sự khác biệt này là tuyệt đối Không có cơn co giật có xu hướng xảy ra ở người trẻ có xu hướng bắt đầu và kết thúc đột ngột thường, co giật tự động ít phức tạp hơn trong cơn động kinh vắng ý thức hơn là động kinh suy giảm chức năng cục kinh khởi phát toàn thể thường xảy ra do rối loạn chuyển hóa và đôi khi do bệnh lý di truyền. Các cơn động kinh cục bộ khởi phát từ các mạng trong một bán cầu và có thể bắt nguồn từ các cấu trúc dưới vỏ. Chúng có thể được khu trú riêng rẽ hoặc phân bố rộng rãi hơn. Cơn động kinh khởi phát có thể được phân loại theo mức độ nhận thức Cơn động kinh cục bộ trước đây là cơn động kinh từng phần đơn giảnCơn động kinh suy giảm ý thức khu trú trước đây là cơn động kinh cục bộ phức tạpNếu nhận thức bị suy giảm trong bất kỳ phần nào của cơn động kinh, cơn động kinh được phân loại là cơn động kinh suy giảm ý thức khu cơn động kinh khởi phát có thể được phân loại theo loại động kinh Động tác tự động phối hợp, không mục đích, vận động lặp đi lặp lạiAtonic mất trương lực cơClonic giật cục bộCo cứng động kinh gấp cục bộ hoặc duỗi cánh tay và gấp thân mìnhTăng động gây đạp hoặc đập mạnhGiật cơ không đều, giật cục bộ ngắnCo cứng cứng khu trú kéo dài một chi hoặc một bên cơ thểMức độ nhận thức thường không được chỉ định cho các cơn co giật hoặc co giật động cơn co giật co cứng khởi phát khu trú, co cứng chỉ liên quan đến một chi hoặc một bên của cơ thể, thường không mất ý thức. điện não đồ EEG có thể cho thấy các bất thường dạng động kinh khu trú đối bên. Ngược lại, trong các cơn co giật co cứng khởi phát toàn thể, co cứng liên quan đến tất cả các chi, có hoặc không có mất ý thức và điện não đồ có thể cho thấy các bất thường dạng động kinh hai cơn động kinh không khởi phát có thể được phân loại dựa trên đặc điểm nổi bật sớm nhất Rối loạn thần kinh thực vật các hiệu ứng thần kinh thực vật như cảm giác ở đường tiêu hóa GI, cảm giác nóng hoặc lạnh, bốc hỏa, kích thích tình dục, dựng lông và đánh trống ngựcNgừng hành vi ngừng vận động và không đáp ứng là đặc điểm chính của cơn động kinhRối loạn nhận thức suy giảm ngôn ngữ hoặc các lĩnh vực nhận thức khác hoặc các đặc điểm tích cực như ảo giác, hoặc méo mó tri giácRối loạn cảm xúc biểu hiện bằng những thay đổi cảm xúc, như lo lắng, sợ hãi, vui vẻ, hoặc các dấu hiệu cảm xúc mà không có cảm xúc chủ quanRối loạn cảm giác gây cảm giác cơ thể, khứu giác, thị giác, thính giác, cảm giác, hoặc tiền đình hoặc cảm giác nóng hoặc lạnhCác cơn động kinh khởi phát khu trú có thể tiến triển thành một cơn co giật tăng trương lực toàn thân khởi phát được gọi là cơn co giật tăng trương lực một bên sang hai bên; trước đây là cơn toàn thể thứ phát, gây mất ý thức. Co giật tăng trương lực khu trú-hai bên xảy ra khi một cơn co giật khu trú lan rộng và kích hoạt toàn bộ đại não hai bên. Sự kích hoạt có thể xảy ra nhanh đến mức cơn co giật khu trú ban đầu không rõ ràng về mặt lâm sàng hoặc rất ngắn. Động kinh thường được phân loại là động kinh không rõ nguyên nhân khi thiếu thông tin về khởi phát. Nếu các bác sĩ lâm sàng có thêm thông tin về các cơn động kinh, những cơn động kinh này có thể được phân loại lại thành khởi phát cục bộ hoặc khởi phát toàn kinh khởi phát không rõ có thể là vận động hoặc không vận kinh khởi phát không rõ có thể được phân loại thành co cứngCơn động kinhĐộng kinh không vận động khởi phát không rõ có thể được phân loại thêm Ngừng hành viCo cứng - co giật có khởi đầu không rõ ràng thường được phân loại là cơn co giật khởi phát không rõ. Động kinh sau đó được xác định là co giật động kinh hoặc co giật bắt giữ hành vi ban đầu có thể được phân loại là động kinh khởi phát không rõ dõi điện não đồ chi tiết có thể giúp làm rõ liệu khởi phát là tập trung hay toàn bộ; làm như vậy là quan trọng bởi vì nếu khởi phát là khu trú, nguyên nhân có thể điều trị được. 1. Fisher RS, Cross JH, D'Souza C, et al Instruction manual for the ILAE [International League Against Epilepsy] 2017 operational classification of seizure types. Epilepsia 58 4531–542, 2017. doi Triệu chứng và dấu hiệu của rối loạn co giật Một aura có thể xuất hiện trước các cơn động kinh. Aura mô tả bệnh nhân cảm thấy như thế nào khi cơn động kinh bắt đầu. Aura có thể bao gồm hoạt động vận động hoặc cảm giác, thần kinh thực vật hoặc triệu chứng tâm thần ví dụ như dị cảm, tăng cảm giác khó chiu vùng thượng vị, mùi bất thường, cảm giác sợ hãi, cảm giác chưa từng thấy hoặc đã từng gặp. Với cảm giác chưa từng thấy, một địa điểm hoặc trải nghiệm quen thuộc trở nên rất lạ lùng - trái ngược với cảm giác đã từng gặp. Trong hầu hết các trường hợp, aura mà bệnh nhân mô tả là một phần của cơn động kinh cục hết các cơn co giật tự kết thúc trong 1 đến 2 phút. Trạng thái sau động kinh thường theo sau cơn động kinh toàn thể; nó được đặc trưng bởi giấc ngủ sâu, đau đầu, lú lẫn và đau cơ; trạng thái này kéo dài từ vài phút đến vài giờ. Đôi khi trạng thái sau động kinh bao gồm liệt Todd một chứng thiếu máu thần kinh thoáng qua, thường yếu ở phần chi đối diện với ổ động kinh.Hầu hết bệnh nhân có vẻ bình thường về mặt thần kinh giữa các cơn co giật, mặc dù liều cao của các loại thuốc được sử dụng để điều trị rối loạn co giật, đặc biệt là thuốc chống co giật, có thể làm giảm sự tỉnh táo. Bất kỳ tình trạng tiến triển xấu đi nào của ý thức đều thường liên quan đến bệnh lý thần kinh gây ra cơn động kinh hơn là do chính bản thân cơn động kinh khi, co giật không ngừng lại, như trong tình trạng động kinh. Động kinh khởi phát tập trung Cơn động kinh khởi phát Cơn động kinh cục bộ trước đây là cơn động kinh từng phần đơn giảnCơn động kinh suy giảm ý thức khu trú trước đây là cơn động kinh cục bộ phức tạpTrong cơn động kinh cục bộ, nhận thức còn nguyên vẹn. Nếu nhận thức bị suy giảm trong bất kỳ phần nào của cơn động kinh, cơn động kinh được phân loại là cơn động kinh cục bộ với sự suy giảm nhận thức; nhận thức có thể bị suy giảm nhưng không mất hoàn kinh nhận thức tập trung gây ra các triệu chứng vận động, cảm giác, hoặc tâm thần vận động. Các triệu chứng cụ thể phản ánh khu vực não bị tổn thương xem bảng Triệu chứng co giật theo từng vùng Biểu hiện của động kinh cục bộ ở một bên . Trong cơn động kinh kiểu Jackson, các triệu chứng vận động bắt đầu ở một tay, sau đó lan lên trên cánh tay hành trình Jackson. Các cơn động kinh cục bộ khác sẽ ảnh hưởng đến khuôn mặt trước tiên, sau đó lan sang cánh tay và có thể lan sang chân. Một số cơn động kinh khởi phát khu trú bắt đầu bằng việc giơ cánh tay lên và đầu quay về phía cánh tay nâng lên gọi là tư thế đấu kiếm. Động kinh từng phần, một rối loạn hiếm gặp, là một cơn co giật vận động liên tục. Nó thường liên quan đến cánh tay, bàn tay hoặc một bên mặt; cơn co giật tái diễn trong vài giây hoặc vài phút và tình trạng động kinh kéo dài trong vài ngày đến nhiều năm. Nguyên nhân thường là Ở người trưởng thành Một tổn thương cấu trúc ví dụ đột quỵỞ trẻ em Viêm vỏ não khu trú ví dụ viêm não Rasmussen, có thể do nhiễm vi rút mạn tính hoặc bởi các quá trình tự miễn dịch. Động kinh cục bộ phức tạp thường có aura xuất hiện trước. Trong cơn động kinh, bệnh nhân có thể nhìn chằm chằm. Nhận thức bị suy giảm, nhưng bệnh nhân có một số nhận thức về môi trường ví dụ, họ cố ý rút lui khỏi các kích thích độc hại. Những điều sau đây cũng có thể xảy ra Động tác tự động vùng miệng nhai tự động hoặc chép miệngĐộng tác tự động của chi ví dụ các vận động tự động của tayTạo ra các âm thanh vô nghĩa mà người nghe không thể hiểu họ nói cự với sự hỗ trợTư thế tăng hay loạn trương lực của ngọn chi đối bên với ổ động kinhQuay đầu và mắt, thường về hướng đối diện với ổ động tác kiểu đạp xe ở hai chân nếu động kinh có nguồn gốc từ mặt trong thùy trán hoặc vùng trán - ổ mắtCác triệu chứng vận động giảm dần sau 1 đến 2 phút, nhưng tinh trạng lú lẫn và mất phương hướng có thể kéo dài thêm 1 hoặc 2 phút. Mất trí nhớ sau cơn là phổ biến. Nếu là cơn động kinh toàn thể bệnh nhân có thể kích động nếu bị ngăn lại trong cơn hoặc trong khi hồi phục ý thức. Tuy nhiên, hành vi hung hăng không do kích thích là hiếm kinh thùy thái dương trái có thể gây ra những bất thường về trí nhớ ngôn ngữ; động kinh thùy thái dương phải có thể gây ra bất thường về trí nhớ không gian hình ảnh. Cơn động kinh toàn thể Khi khởi phát thường mất ý thức, bất thường chức năng vận động. Động kinh khởi phát toàn thể được phân loại là động kinh hoặc động kinh không vận cơn động kinh vắng ý thức điển hình trước đây gọi là động kinh cơn nhỏ bao gồm mất ý thức từ 10 đến 30 giây kèm giật mi mắt; có thể mất hoặc không mất trương lực cơ thân mình. Bệnh nhân không bị ngã hoặc co giật; đột ngột ngừng hoạt động, sau đó lại khôi phục ngay lập tức, không có triệu chứng sau cơn và không biết có cơn động kinh đã xảy ra. Những cơn động kinh vắng ý thức do các bệnh lý của gen và xảy ra chủ yếu ở trẻ em. Thông thường, các cơn này bắt đầu từ 5 đến 15 tuổi và không tiếp tục đến tuổi trưởng thành. Nếu không điều trị, những cơn động kinh này có thể xảy ra nhiều lần trong ngày. Động kinh thường xảy ra khi bệnh nhân đang ngồi yên, có thể bị thúc đẩy bởi tăng thông khí và hiếm khi xảy ra trong quá trình tập thể dục. Kết quả khám thần kinh và nhận thức thường bình cơn động kinh vắng ý thức không điển hình thường xảy ra như là một phần của hội chứng Lennox-Gastaut, một thể động kinh nặng. Chúng khác với những cơn động kinh vắng ý thức điển hình như sau Kéo dài động tác co giật hoặc tự động rõ ràng nhận thức không hoàn bệnh nhân có tiền sử tổn thương hệ thần kinh, chậm phát triển, các kết quả khám thần kinh bất thường và các loại động kinh khác. Các cơn động kinh vắng ý thức không điển hình thường kéo dài đến tuổi trưởng chứng Lennox-Gastaut là một dạng động kinh nặng gây ra một số loại co giật; rối loạn thường bắt đầu trước 4 tuổi và có thể tiếp tục đến tuổi trưởng thành. Các giai đoạn co giật thường xuyên có thể xen kẽ với các giai đoạn tương đối không co giật. Chức năng trí tuệ và/hoặc xử lý thông tin bị suy giảm ở hầu hết bệnh nhân mắc hội chứng Lennox-Gastaut; tình trạng phát triển có thể bị trì hoãn và các vấn đề về hành vi có thể xảy ra. Nguyên nhân của hội chứng Lennox-Gastaut bao gồm dị dạng não, xơ cứng củ, ngạt chu sinh, chấn thương nặng ở đầu, nhiễm trùng ở hệ thần kinh trung ương, các rối loạn do di truyền và rối loạn do thoái hóa hoặc do chuyển hóa. Đôi khi không xác định được nguyên cơn động kinh không co giật cánh tay và vai co giật nhịp nhàng 3 lần/giây, gây ra sự gia tăng cánh tay. Động kinh tăng trương lực thường kéo dài 10 đến 60 giây. Sự biến dạng có thể không rõ ràng. Co giật cơ không do co giật cơ là do các rối loạn di truyền khác nhau; đôi khi nguyên nhân không cơ mi mắt bao gồm giật cơ mi mắt và lệch lên của mắt, thường xuất hiện khi nhắm mắt hoặc bằng ánh sáng. Đau cơ mi mắt có thể xảy ra trong động kinh cũng như động kinh không vận kinh mất trương lực thường xảy ra ở trẻ em, thường là một phần của hội chứng Lennox-Gastaut. Động kinh mất trương lực được đặc trưng bởi sự mất trương lực các cơ và mất ý thức. Trẻ ngã gục xuống đất có nguy cơ chấn thương, đặc biệt là chấn thương đầu. Động kinh tăng trương lực xảy ra thường xuyên nhất trong thời gian ngủ, thường ở trẻ em. Nguyên nhân thường là hội chứng Lennox-Gastaut. Tăng trương lực duy trì sự co của các cơ ngọn chi bắt đầu đột ngột hoặc từ từ, sau đó lan đến các cơ gốc chi. Cổ thường cứng. Động kinh tăng trương lực thường kéo dài 10 đến 15 giây. Cơn động kinh tăng trương lực có thể kéo dài hơn, khi giai đoạn tăng trương lực kết thúc thì các cơn co giật nhanh có thể xảy co giật clonic giật liên tục xảy ra ở các chi ở cả hai bên cơ thể và thường ở đầu, cổ, mặt và thân mình. Co giật clonic thường xảy ra ở trẻ sơ sinh và cần được phân biệt với cơn hoảng sợ hoặc run. Động kinh clonic ít phổ biến hơn nhiều so với động kinh co giật. Các cơn tăng trương lực - co giật có thể là Khởi phát toàn thân trước đây là toàn thânThuốc tăng trương lực cơ hai bên trước đây, toàn thânCơn co cứng co giật khởi phát toàn thể xảy ra chủ yếu bắt đầu bằng tiếng thét; tiếp tục với mất ý thức và ngã xuống, tiếp theo là sự co cơ có sự luân phiên nhanh chóng giữa co và duỗi cơ, sau đó sự chuyển động của các cơ ở chi, thân mình và đầu. Đôi khi bệnh nhân xuất hiện đại - tiểu tiện không tự chủ, cắn lưỡi và sùi bọt mép. Các cơn co giật thường kéo dài từ 1 đến 2 phút. Không có tiền cơn động kinh toàn thể thứ phát thường được bắt đầu bằng một cơn động kinh cục bộ đơn giản hoặc phức tạp, sau đó tiến triển giống như cơn co cứng co giật toàn thể động kinh co giật cơ ngắn, chớp nhoáng như co giật một chi, một vài chi hoặc thân mình. Chúng có thể lặp đi lặp lại, dẫn đến hiện tượng co giật toàn thân. Các cơn co giật có thể là hai bên hoặc một bên. Cơn động kinh co giật cơ không giống như các cơn động kinh khác là co giật cả hai bên, ý thức không bị mất trừ khi cơn động kinh giật cơ tiến triển thành cơn co giật toàn cơn múa giật mất trương lực, các chi hoặc thân mình giật ngắn, sau đó đi khập khiễng. Động kinh thường bắt đầu từ 6 tháng đến 6 tuổi. Trong hai phần ba trẻ em, co giật do sốt và co giật toàn thân xảy ra trước cơn động kinh co giật cơ. Những cơn động kinh này phổ biến hơn ở nam giới 2 1. Sự phát triển và nhận thức thường là bình thường nhưng có thể trở nên suy yếu khi hoặc sau khi cơn động kinh bắt kinh múa giật vị thành niên là một loại động kinh múa giật co cứng co giật toàn thể; nó được đặc trưng bởi múa giật, co cứng, co giật và cơn động kinh vắng ý thức. Bệnh thường xuất hiện ở tuổi vị thành niên. Động kinh bắt đầu bằng co giật hai bên, đồng bộ, 90% trường hợp có cơn tăng trương lực - co giật toàn thân. Động kinh xảy ra khi bệnh nhân thức giấc vào buổi sáng, đặc biệt là sau khi thiếu ngủ hoặc uống rượu. Những cơn động kinh vắng ý thức xảy ra ở khoảng 1/3 số bệnh nhân. Cơn co giật phức tạp do sốtCác bất thường thần kinh tồn tại từ trướcKhởi phát trước 1 tuổiTiền sử gia đình có bệnh động kinhHội chứng Dravet động kinh múa giật nặng ở trẻ sơ sinh xuất hiện trong thời thơ ấu; nó có các phần khu trú và toàn thể và do đó rõ ràng không phải là một loại co giật khởi phát toàn thể hoặc co giật khởi phát khu trú. Co giật khu trú do sốt chiếm ưu thế trong năm đầu đời; vào khoảng 2 tuổi, cơn động kinh tiến triển thành cơn co giật múa giật toàn thân. Co giật múa giật toàn thể được đặc trưng bởi các cơn giật múa giật hai bên chiếm ưu thế theo trục thường xuyên kèm theo các đợt tăng đột biến đồng bộ và hoạt động sóng trên điện não đồ. Các dạng co giật khác có thể xảy ra trong hội chứng Dravet bao gồm co giật vắng ý thức không điển hình, co cứng, mất trương lực và co cứng co giật. Sự phát triển tâm thần vận động bị đình trệ hoặc thoái lui trong năm thứ hai của cuộc đời. Các đột biến trong gen tiểu đơn vị alpha-1 kênh natri SCN1A xảy ra ở 70 đến 80% số bệnh nhân mắc hội chứng Dravet. Trạng thái động kinh Trạng thái động kinh là tình trạng co giật liên tục; khởi phát có thể là toàn thể hoặc khu trú. Trạng thái động kinh có 2 dạng Co giật với các triệu chứng vận động nổi bậtKhông co giật không có triệu chứng vận động Trạng thái động kinh co giật toàn thể gồm ít nhất một trong những điều sau đây ≥ 2 cơn co giật mà bệnh nhân không tỉnh lại hoàn toànĐịnh nghĩa trước đây về thời lượng > 30 phút được điều chỉnh để chẩn đoán và điều trị nhanh hơn. Động kinh toàn thể không điều trị kéo dài > 60 phút có thể gây tổn thương não vĩnh viễn; động kinh kéo dài hơn có thể gây tử vong. Tăng nhịp tim và thân nhiệt. Trạng thái động kinh co giật toàn thể có nhiều nguyên nhân gồm chấn thương sọ não và dừng đột ngột thuốc chống co thái động kinh không co giật bao gồm động kinh trạng thái khởi phát khu trú và động kinh trạng thái vắng mặt. Chúng thường biểu hiện như những giai đoạn kéo dài của sự thay đổi trạng thái tinh thần. Để chẩn đoán có thể phải làm điện não đồ. Đột tử trong bệnh động kinh Chết đột ngột không rõ nguyên nhân trong bệnh động kinh SUDEP là một biến chứng hiếm gặp của cơn động kinh; nguyên nhân là không thường xảy ra vào ban đêm hoặc trong khi cơ bị SUDEP cao nhất đối với những bệnh nhân bị co giật thường xuyên, đặc biệt là cơn co giật toàn thân. Không có biện pháp nào được chứng minh là làm giảm nguy cơ bị SUDEP, nhưng biện pháp kiểm soát co giật tốt nhất có thể được khuyến cáo. Tài liệu tham khảo về các triệu chứng và dấu hiệu 1. Trinka E, Cock H, Hesdorffer D, et al A definition and classification of status epilepticus Report of the ILAE International League Against Epilepsy Task Force on Classification of Status Epilepticus. Epilepsia 56 101515–1523, 2015. doi Epub 2015 Sep 4. Đánh giá lâm sàngĐối với cơn động kinh mới khởi phát cần chỉ định chẩn đoán hình ảnh hệ thần kinh, xét nghiệm máu và điện não đồ. Đối với các rối loạn co giật đã biết, thường là nồng độ thuốc chống co giật Đối với những bệnh động kinh mới khởi phát hoặc đã có tiền sử động kinh, làm các xét nghiệm khác theo chỉ dẫn lâm giá phải xác định xem liệu triệu chứng này là một cơn động kinh so với một nguyên nhân khác gây tình trạng sững sờ ví dụ như chứng giả động kinh, ngất, sau đó xác định các nguyên nhân có thể xảy ra hoặc các yếu tố khởi phát cơn. Bệnh nhân có động kinh mới khởi phát được khám tại khoa cấp cứu; đôi khi có thể cho ra viện sau khi khám kỹ bệnh nhân. Những người có tiền sử bệnh động kinh có thể khám tại phòng khám chuyên khoa. Những bệnh nhân đã bị co giật nên được hỏi về những cảm giác bất thường, gợi ý về một cơn động kinh và do đó là một cơn động kinh, và về những biểu hiện động kinh điển hình. Bệnh nhân thường không nhớ cơn co giật toàn bộ, do đó phải có nhân chứng mô tả về cơn động kinh của bệnh nhân. Các biểu hiện của các tình trạng khác, chẳng hạn như thiếu máu não cục bộ đột ngột ví dụ do rối loạn nhịp thất, có thể giống với động kinh gồm mất ý thức và một số cơn giật cơ. Tiền sử gồm thông tin về cơn động kinh đầu tiên và bất kỳ cơn nào sau đó ví dụ khoảng thời gian, tần suất, tuần tự của tiến trình, khoảng cách dài nhất và ngắn nhất giữa cơn co giật, tiền triệu, trạng thái sau động kinh, các yếu tố khởi phát. Tất cả bệnh nhân cần được hỏi về các yếu tố nguy cơ động kinh Chấn thương đầu hoặc nhiễm trùng thần kinh trung ương trước đóTiền sử bệnh lý thần kinhSử dụng hoặc ngừng thuốc, đặc biệt là thuốc kích thíchCai rượuKhông tuân thủ thuốc chống động kinhTiền sử gia đình bị động kinh hoặc bệnh lý thần kinhBệnh nhân cũng cần được hỏi về các yếu tố khởi phát hiếm gặp ví dụ âm thanh lặp đi lặp lại, đèn nhấp nháy, trò chơi điện tử, chạm vào một số phần của cơ thể và về tình trạng thiếu ngủ, là những yếu tố có thể làm giảm ngưỡng động kinh. Bệnh nhân mất ý thức, cắn vào lưỡi, đại tiểu tiện không tự chủ ví dụ nước tiểu hoặc phân trong quần áo hoặc lú lẫn kéo dài sau khi mất ý thức cần xem xét chẩn đoán bệnh nhân bị động tình trạng giả động kinh, co cơ toàn thể và thiếu đáp ứng với các kích thích bằng lời thoạt nhìn có thể gợi ý các cơn động kinh co cứng toàn thể. Tuy nhiên, giả động kinh thường có thể được phân biệt với động kinh thực sự bởi các đặc điểm lâm sàng Giả động kinh thường kéo dài hơn vài phút hoặc nhiều hơn.Sau cơn thường không có lú cảnh điển hình là tăng trương lực có tiếp nối bởi pha co giật thường không xảy tiến triển của co cơ không tương xứng với cơn động kinh thực sự ví dụ như chuyển động giả co giật có thể bao gồm các cơn giật di chuyển từ bên này sang bên kia và ngược lại và đẩy mạnh khung chậu quá mức.Cường độ có thể tăng giảm từng dấu hiệu sinh tồn, bao gồm thân nhiệt thường duy trì bình nhân thường chủ động chống lại sự mở mắt thụ động. Làm các xét nghiệm thường quy nhưng khi kết quả bình thường không chắc chắn loại trừ bệnh động kinh. Do đó, chẩn đoán cuối cùng có thể dựa vào lâm sàng. Xét nghiệm phụ thuộc vào kết quả thăm khám thần kinh và khai thác tiền bệnh nhân có rối loạn co giật đã biết nhưng có các triệu chứng hoặc dấu hiệu của rối loạn đó có thể điều trị được ví dụ chấn thương, nhiễm trùng, rối loạn chuyển hóa, xét nghiệm bổ sung sẽ được chỉ định. Tuy nhiên, nếu kết quả xét nghiệm bình thường hoặc không thay đổi, ít xét nghiệm cần kiểm tra, ngoại trừ đo nồng độ thuốc chống co giật trong máu. Nếu cơn co giật mới khởi phát hoặc nếu kết quả xét nghiệm bất thường lần đầu thì cần phải chẩn đoán hình ảnh thần kinh. Bệnh nhân động kinh mới khởi phát hoặc các biểu hiện không điển hình cũng cần phải xét nghiệm, bao gồm xét nghiệm máu điện giải đồ, nồng độ urea nitrogen máu BUN, creatinin, glucose, Ca, Mg, và P và xét nghiệm chức năng thể chỉ định các xét nghiệm khác dựa trên những triệu chứng lâm sàng nghi ngờ Viêm màng não hoặc nhiễm trùng thần kinh trung ương với kết quả hình ảnh học thần kinh bình thường Chọc dò dịch não tủy là cần sử dụng các loại thuốc gây nghiện không được ghi nhận có thể gây ra hoặc góp phần gây động kinh Có thể thực hiện sàng lọc thuốc, mặc dù việc thực hành này gây tranh cãi vì kết quả dương tính không cho thấy mối quan hệ nhân quả và kết quả xét nghiệm có thể không chính kinh căn nguyên ẩn Cần xét nghiệm kháng thể kháng thụ thể NMDA, đặc biệt ở phụ nữ trẻ có đến 26% có thể có kết quả dương tính; kết quả dương tính cho thấy viêm não kháng thụ thể bắt chước co giật ví dụ, với giật dạng múa giật Điện tâm đồ có thể phát hiện rối loạn nhịp tim không nghi ngờ. Hình ảnh học thần kinh thường chụp CT, nhưng đôi khi chụp MRI thường được thực hiện ngay để loại trừ khối u hoặc xuất huyết. Chụp CT có thể được trì hoãn và có thể tránh ở trẻ em có cơn co giật do sốt đặc trưng mà tình trạng thần kinh nhanh chóng trở lại bình thường. Chụp MRI sau đó được khuyến cáo khi CT âm tính. Nó cung cấp độ phân giải tốt hơn với các khối u và áp xe não và có thể phát hiện chứng loạn sản vỏ não, huyết khối tĩnh mạch não và viêm não Herpes. Chụp MRI sọ não sử dụng các chuỗi xung T1 và T2 có độ phân giải cao, có thể phát hiện teo hay xơ cứng hồi hải mã. MRI có thể phát hiện ra một số nguyên nhân phổ biến của động kinh như dị tật phát triển vỏ não ở trẻ nhỏ và xơ cứng thùy thái dương giữa, tổn thương tế bào thần kinh đệm và khối u nhỏ ở người lớn. Điện não đồ EEG rất quan trọng trong chẩn đoán động kinh, đặc biệt là động kinh suy giảm nhận thức khu trú hoặc động kinh trạng thái vắng mặt, khi điện não đồ có thể là dấu hiệu chính xác nhất của cơn động kinh. Điện não đồ có thể phát hiện các bất thường dạng động kinh các gai, sóng nhọn, các phức hợp gai, sóng chậm, đa gai và các phức hợp sóng chậm. Các bất thường của epileptiform có thể là hai bên, đối xứng và đồng bộ ở những bệnh nhân có cơn động kinh toàn thân khởi phát và có thể khu trú ở những bệnh nhân có cơn động kinh toàn phát hiện điện não đồ có thể bao gồm những điều sau Các bất thường dạng động kinh tập trung ở thùy thái dương giữa các cơn co giật trong các cơn động kinh cục bộ phức tạp bắt nguồn từ thùy thái dươngNhững cơn kịch phát đối xứng hai bên với tần số 4- đến 7 Hz ở thể động kinh hoạt động trong cơn tăng trương lực - co giật toàn thể nguyên phátPhóng điện dạng epileptiform khu trú trong các cơn co giật tăng trương lực từ đầu đến hai đợt phóng điện, sóng chậm và nhiều gai xảy ra cùng lúc với tốc độ 3 đợt/giây và thường là điện não đồ bình thường giữa các cơn động kinh vắng ý thức điển hìnhCác đợt phóng điện gai chậm và sóng thường ở tốc độ 50% ở một phần ba khác. Khoảng 60% bệnh nhân có cơn động kinh kiểm soát tốt bằng thuốc cuối cùng có thể ngừng thuốc và duy trì không động kinh được coi là khỏi khi bệnh nhân không có cơn động kinh trong 10 năm và không dùng thuốc chống co giật trong 5 năm cuối của thời kỳ đó. Loại bỏ nguyên nhân nếu có thểTránh hoặc đề phòng trong trường hợp mất ý thức có thể đe dọa tính mạngDùng thuốc kiểm soát cơn động kinhPhẫu thuật nếu ≥ 2 thuốc trong liều điều trị không kiểm soát được cơn động kinhĐiều trị tối ưu các cơn co giật là loại bỏ các nguyên nhân bất cứ khi nào có không thể sửa chữa hoặc xác định nguyên nhân, thường phải dùng thuốc chống co giật, đặc biệt là sau cơn động kinh thứ 2; Tính hữu ích của thuốc chống co giật sau một cơn động kinh còn nhiều tranh cãi, và nên thảo luận về nguy cơ và lợi ích với bệnh nhân. Do nguy cơ động kinh sau đó thấp, nên có thể giữ lại các loại thuốc cho đến khi có cơn động kinh lần thứ hai, đặc biệt ở trẻ em. Ở trẻ em, một số loại thuốc chống động kinh gây ra các vấn đề quan trọng về hành vi và học tập. Trong một cơn động kinh co cứng - co giật toàn thể, nên tránh chấn thương bằng cách nới lỏng áo quanh cổ và đặt gối dưới đầu. Cố gắng bảo vệ lưỡi là vô ích và có khả năng làm hỏng răng của bệnh nhân hoặc ngón tay của người cứu hộ. Bệnh nhân nên được nằm nghiêng bên trái để tránh viêm phổi hít phải. Những biện pháp này nên được giảng dạy cho các thành viên trong gia đình và đồng nghiệp của bệnh động kinh cục bộ có thể trở nên toàn thể, bệnh nhân có nguy cơ mất ý thức và do đó nên được khuyên dùng các biện pháp dự phòng nhất định. Cho đến khi động kinh được kiểm soát, bệnh nhân nên tránh các hoạt động mà mất ý thức có thể đe doạ đến tính mạng ví dụ như lái xe, bơi lội, leo núi, vận hành các dụng cụ điện, tắm trong bồn tắm. Sau khi động kinh được kiểm soát hoàn toàn thường > 6 tháng, các hoạt động như vậy có thể được tiếp tục nếu có các biện pháp bảo vệ thích hợp ví dụ như nhân viên cứu hộ và bệnh nhân nên được khuyến khích để có cuộc sống bình thường, bao gồm tập thể dục và các hoạt động xã một số tiểu bang, bác sĩ phải báo cáo bệnh nhân bị động kinh cho Bộ phận quản lý các phương tiện cơ giới. Tuy nhiên, hầu hết các tiểu bang cho phép lái xe ô tô sau khi bệnh nhân không bị động kinh trong 6 tháng đến 1 nhân nên được khuyên tránh cocaine và một số loại thuốc bất hợp pháp khác ví dụ, phencyclidine, amphetamines, có thể gây co giật và tránh uống rượu. Một số loại thuốc ví dụ haloperidol, phenothiazines có thể làm giảm ngưỡng khởi phát động kinh và nên tránh nếu có thành viên trong gia đình phải được dạy cách tiếp xúc thông thường nhất đối với bệnh nhân. Nên hỗ trợ giảm thiểu những cảm xúc tiêu cực ví dụ như tự ti hoặc e dè thay vì bảo vệ quá mức; cần phòng tránh tàn tật. Chăm sóc có hệ thống hiếm khi được khuyến khích và nên dành cho những bệnh nhân suy giảm nhận thức nghiêm trọng và những bệnh nhân không thể điều trị tại nơi khác do động kinh thường xuyên với cường độ mạnh và kháng trị. Hội chứng Dravet được điều trị bằng valproate, clobazam hoặc topiramate, nhưng các cơn co giật thường khó chữa bằng những loại thuốc này. Carbamazepine, phenytoin và lamotrigine có thể làm trầm trọng thêm tình trạng rung giật cơ và làm trầm trọng thêm cơn co giật. Dung dịch uống cannabidiol hiện có sẵn để điều trị hỗ trợ các cơn co giật trong hội chứng Dravet. Hầu hết các cơn động kinh đều tự phát trong vài phút hoặc ít hơn và không cần điều trị bằng thuốc cấp cứu. Tuy nhiên, nếu trạng thái động kinh và cơn co giật kéo dài > 5 phút cần dùng thuốc cắt cơn, theo dõi tình trạng hô hấp. Cần thiết đặt nội khí quản nếu có bất cứ dấu hiệu nào của sự tắc nghẽn đường thở. Bắt đầu điều trị bằng thuốc chống co giật càng sớm, thì cơn co giật càng được kiểm soát tốt hơn và dễ dàng hơn. Nên nhanh chóng đặt đường truyền tĩnh mạch và bệnh nhân được dùng lorazepam 0,05 đến 0,1 mg/kg tiêm tĩnh mạch thường là liều 4 mg tiêm tĩnh mạch cho người lớn với tốc độ 2 mg/phút. Đôi khi cần liều lượng lớn hơn Sau khi dùng lorazepam, một loại thuốc chống động kinh thứ hai, có tác dụng lâu hơn sẽ được chỉ có sự đồng thuận hoặc hướng dẫn dựa trên bằng chứng chỉ ra loại thuốc nào có tác dụng lâu hơn được ưu tiên hơn. Nhiều chuyên gia chọn một trong các cách sau Fosphenytoin 15 đến 20 mg/kg PE tương đương với phenytoin tiêm tĩnh mạch, được dùng với tốc độ từ 100 đến 150 PE/phútPhenytoin 15 đến 20 mg/kg tiêm tĩnh mạch, được dùng với tốc độ 50 mg/phútValproate từ 20 đến 40 mg/kg tiêm tĩnh mạch liều nạp trong 30 phút, tiếp theo là 4 đến 8 mg/kg uống 3 lần/ngàyLiều của fosphenytoin được cho bằng chất tương đương phenytoin PE; fosphenytoin 1,5 mg tương đương với phenytoin 1 động kinh vẫn còn sau khi dùng liều này, có thể cho thêm 5 đến 10 PE mg/kg fosfenytoin hoặc 5 đến 10 mg/kg không thể thiết lập được đường truyền tĩnh mạch, các lựa chọn bao gồm tiêm bắp fosphenytoin và benzodiazepine dưới lưỡi hoặc trực kinh kéo dài sau khi sử dụng lorazepam và phenytoin hoặc thuốc chống co giật thứ hai khác xem như tình trạng động kháng khuyến cáo về thuốc chống co giật thứ 3 khác nhau bao gồm phenobarbital, propofol, midazolam, levetiracetam và valproate. Liều phenobarbital là 15 đến 20 mg/kg tiêm tĩnh mạch 100 mg/phút 3 mg/kg/phút ở trẻ em; các cơn động kinh sau đó cần thêm liều từ 5 đến 10 mg/kg. Một liều nạp valproate 20 đến 40 mg/kg tiêm tĩnh mạch là một phương pháp thay thời điểm này, nếu trạng thái động kinh không giảm cần đặt nội khí quản và gây mê toàn thân. Thuốc gây mê tối ưu cho trường hợp này là vấn đề gây tranh cãi, nhưng nhiều bác sĩ sử dụng propofol 1 đến 2 mg/kg ở liều 100 mg/phút hoặc pentobarbital 5-8 mg/kg liều nạp sau đó truyền 2 đến 4 mg/kg/h cho đến khi trên điện não đồ các cho thấy hoạt động của sóng động kinh đã bị ức chế. Truyền dịch nên được tiếp tục trong ≥ 24 giờ, sau đó dừng lại, để có thể lặp lại và có thể đánh giá lại. Ít khi sử dụng thuốc gây mê đường khi điều trị ban đầu, phải xác định và điều trị nguyên nhân của trạng thái động kinh. Nếu chấn thương đầu gây ra tổn thương cấu trúc đáng kể ví dụ các vết xước hoặc tụ máu lớn, dập não, vỡ xương sọ hoặc thang điểm hôn mê Glasgow GCS của bệnh nhân 1 tuần sau khi chấn thương sọ não, cần điều trị lâu dài bằng thuốc. Thuốc chống động kinh có thể được yêu cầu vô thời hạn, nhưng nhiều loại co giật ví dụ, hầu hết các cơn co giật do sốt, co giật do cai rượu, co giật không tái phát không cần điều trị bằng thuốc chống co giật. Khoảng 10 đến 20% bệnh nhân bị co giật khó chữa, không thể điều trị y tế và là ứng cử viên tiềm năng cho phẫu thuật động kinh thông thường. Nếu cơn động kinh bắt nguồn từ một điểm, vùng có thể cắt bỏ được trong não, việc cắt bỏ ổ động kinh ổ thường giúp cải thiện rõ rệt việc kiểm soát cơn động kinh. Nếu ổ khởi phát ở thùy thái dương trước giữa, việc cắt bỏ sẽ giúp giải quyết cơn co giật ở khoảng 60% bệnh nhân. Sau khi phẫu thuật, một số bệnh nhân không còn co giật và không cần dùng thuốc, nhưng nhiều người vẫn cần thuốc, tuy nhiên có thể giảm liều và chỉ cần đơn trị liệu. Vì phẫu thuật đòi hỏi phải kiểm tra và theo dõi chuyên sâu, những bệnh nhân này tốt nhất nên được điều trị ở các trung tâm động kinh chuyên biệt. Kích thích điện liên tục dây thần kinh phế vị trái sử dụng thiết bị tạo nhịp cấy ghép kích thích dây thần kinh X là liệu pháp bổ trợ cho điều trị thuốc ở những bệnh nhân co giật không kiểm soát và không có chỉ định phẫu thuật. Thủ thuật này làm giảm số cơn động kinh cục bộ ≥ 50% trong khoảng 40% số bệnh nhân. Sau khi thiết bị được lập trình, bệnh nhân có thể kích hoạt nó bằng nam châm để ngăn cơn động kinh sắp xảy dụng phụ của kích thích thần kinh X bao gồm làm trầm giọng nói trong khi kích thích, ho, và khàn tiếng. Các biến chứng là tối gian có hiệu quả không rõ ràng. 1. Chamberlain JM, Kapur J, Shinnar S, et al Efficacy of levetiracetam, fosphenytoin, and valproate for established status epilepticus by age group ESETT A double-blind, responsive-adaptive, randomised controlled trial. Lancet 395 102311217–1224, 2020. doi Epub 2020 Mar Bergey GK, Morrell MJ, Mizrahi EM et al Long-term treatment with responsive brain stimulation in adults with refractory partial seizures. Neurology 84810–817, 2015. doi Geller EB, Skarpaas TL, Gross RE, et al Brain-responsive neurostimulation in patients with medically intractable mesial temporal lobe epilepsy. Epilepsia 58 6994–1004, 2017. doi Nguyên nhân phổ biến của co giật bao gồm chấn thương bẩm sinh, rối loạn thần kinh di truyền hoặc bẩm sinh, và rối loạn chuyển hóa ở trẻ em < 2 tuổi; rối loạn co giật tự phát ở trẻ em từ 2 đến 14 tuổi; chấn thương đầu, cai rượu, khối u, đột quỵ, và không rõ nguyên nhân trong 50% ở người lớn; và các khối u và đột quỵ ở người lớn ý thức có thể là do động kinh nếu bệnh nhân cắn phải lưỡi, mất kiểm soát cơ tròn ví dụ nước tiểu hoặc phân trong quần áo, hoặc lú lẫn trong một thời gian dài sau khi mất ý giá bệnh nhân động kinh cho ta dấu hiệu gợi ý các nguyên nhân ví dụ như sốt, cứng gáy, tổn thương thần kinh khu trú, kích thích thần kinh cơ và tăng phản xạ, phù gai thị và định hướng xét nghiệm sau giá tất cả các bệnh nhân có cơn động kinh mới hoặc đông kinh chưa rõ nguyên nhân bằng hình ảnh học thần kinh, điện não đồ và xét nghiệm chuyện với bệnh nhân về cách tránh hoặc giảm thiểu các cơn động kinh và làm thế nào để giảm nguy cơ tai biến do động kinh ví dụ như không lái xe và không bơi một mình.Thuốc chống động kinh có thể được yêu cầu vô thời hạn, nhưng nhiều loại co giật ví dụ, hầu hết các cơn co giật do sốt, co giật do cai rượu, co giật không tái phát không cần điều trị bằng thuốc chống co nhắc phẫu thuật nếu liều điều trị ≥ 2 loại thuốc chống co giật không kiểm soát được cơn co xét kích thích dây thần kinh phế vị hoặc hệ thống kích thích thần kinh đáp ứng nếu bệnh nhân có cơn co giật và có thể không phù hợp với phẫu thuật thần kinh.
hay giat minh co phai benh tim