Thực ra công giáo còn rất nhiều kinh, nếu bạn theo đạo và đi lễ thì sớm sẽ thuộc kinh, bọn mình chẳng cần học mà đã thuộc từ nhỏ nên đừng lo. Reply Lisa June 24, 2019, 1:09 pm Đề thi kiểm tra Địa lý - Lớp 12 - 18 câu hỏi trắc nghiệm thuộc Trắc nghiệm Địa Lí 12 Bài 33 (có đáp án): Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành (phần 3) Theo đánh giá của ngành y tế Sóc Trăng, 18 tháng qua số người nghỉ việc đa số thuộc nhóm nhân lực đã qua đào tạo và có kinh nghiệm. Trong khi đó, nhóm mới tuyển dụng chưa qua đào tạo, cần có thời gian để làm quen công việc. Cập nhật ngày 08/05/2020 Bởi admin. 1. DẤU THÁNH GIÁ. Nhân danh Chúa Cha và Chúa Con và Chúa Thánh Thần. 2. KINH ĐỨC CHÚA THÁNH THẦN. Chúng con lạy ơn Đức Chúa Thánh Thần thiêng liêng sáng láng vô cùng. Chúng con xin Đức Chúa Thánh Thần xuống đầy lòng Nhổ răng số 18 tại Nha Khoa Kim an toàn, không đau nhức. Trên thực tế, việc nhổ răng số 18 hay nhổ bất cứ chiếc răng hàm nào trên cung hàm thường sẽ phức tạp và không tránh khỏi các biến chứng nguy hiểm. Nhổ răng số 18 tại Nha Khoa Kim được thực hiện an toàn, không đau Số 10 -18: Tập làm bản xét mình: 18/5. 18/5. Ôn các kinh cần thuộc: Kinh Đức Chúa Thánh Thần, kinh tin kính, kinh ăn năn tội, Tổng hợp Phim 18+ Hồng Kông vietsub mới, Phim 18+ Hồng Kông thuyết minh cực hay cập nhật mới nhất 2022 vietsub Ba Vì là huyện bán sơn địa thuộc Hà Nội, có 3 dân tộc Kinh, Mường, Dao cùng chung sống tạo nên bản sắc văn hóa đa dạng và độc đáo. Nơi đây còn được coi là “lá phổi xanh của thủ đô Hà Nội” với cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, tươi đẹp. Đây là những lợi thế cơ bản để Ba Vì đẩy mạnh phát triển App Vay Tiền. 1. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở Nàdika bộ lạc Na-đề-ca tại Ginjakàvasatha nhà làm bằng gạch. Lúc bấy giờ, Thế Tôn thường hay tuyên bố về vấn đề tái sanh của những tín đồ đã sống, đã từ trần và đã mệnh chung trong các bộ lạc xung quanh như bộ lạc Kàsi Ca-thi, Kosala Câu-tát-la, Vajjì Bạt-kỳ, Malla Mạt-la, Ceti Chi-đề, Vansa Bạt-sa, Kuru Câu-lâu, Pancàla Ban-giá-la, Maccha Bà-sá-la Sùrasena Mậu-ba-tây-na - Vị này sanh ra tại chỗ này! Vị kia sanh ra tại chỗ kia. Hơn năm mươi vị tín đồ ở Nàdika đã từ trần, đã mệnh chung với năm hạ phần kiết sử đã được đoạn trừ, được hóa sanh thiên giới từ đó nhập Niết-bàn không còn trở lại đời này nữa. Hơn chín mươi vị ở Nàdikà, đã từ trần, đã mệnh chung, với ba kiết sử đã được đoạn trừ, với tham, sân, si được giảm thiểu, chứng quả Nhất lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ tận diệt khổ đau. Hơn năm trăm vị Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung, với ba kiết sử đã được diệt trừ, chứng quả Dự lưu, nhất định không đọa ác đạo, đạt đến Chánh Giác. 2. Các vị tín đồ ở Nàdikà được nghe "Thế Tôn thường hay tuyên bố về vấn đề tái sanh của những tín đồ đã từ trần và đã mệnh chung trong các bộ lạc xung quanh, như bộ lạc Kàsi, Kosala, Vajjì, Malla, Ceti, Vamsa, Kuru, Pancàla, Macchà, Sùrasena "Vị này sanh ra tại chỗ này. Vị kia sanh ra tại chỗ kia. Hơn năm mươi vị tín đồ ở Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung với năm hạ phần kiết sử đã được đoạn trừ, được hóa sanh Thiên giới từ đó nhập Niết-bàn không còn trở lại đời này nữa. Hơn chín mươi vị ở Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung với ba kiết sử đã được đoạn trừ, với tham, sân, si được giảm thiểu, chứng quả Nhất lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau. Hơn năm trăm vị ở Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung với ba kiết sử đã được đoạn trừ, chứng quả Dự lưu, nhất định không đọa ác đạo, đạt đến Chánh Giác". Các vị tín đồ ở Nàdikà được nghe Thế Tôn hỏi đáp như vậy, lấy làm hoan hỷ, tín thọ, an lạc. 3. Tôn giả Ananda được nghe "Thế Tôn thường hay tuyên bố về vấn đề tái sanh của những tín đồ đã từ trần, đã mệnh chung trong các bộ lạc xung quanh, như bộ lạc Kàsi, Kosala, Vajjì, mallà, Ceti, Vamsa, Kuru, Pancàla, Macchà, Sùrasena "Vị này sanh ra tại chỗ này, vị kia sanh ra tại chỗ kia. Hơn 50 vị tín đồ Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung với năm hạ phần kiết sử đã được đoạn trừ, được hóa sanh thiên giới từ đó nhập Niết-bàn không còn trở lại đời này nữa. Hơn chín mươi vị ở Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung với ba kiết sử đã được đoạn trừ, với tham, sân, si được giảm thiểu, chứng quả Nhất lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau. Hơn năm trăm vị ở Nãdikã đã từ trần, đã mệnh chung với ba kiết sử đã được diệt trừ, chứng quả Dự lưu, nhất định không đọa ác đạo, đạt đến Chánh Giác". Các vị tín đồ ở Nãdikã được nghe Thế Tôn hỏi đáp như vậy lấy làm hoan hỷ, tín thọ, an lạc". 4. Rồi tôn giả Ananda suy nghĩ "Nhưng ở tại Magadha Ma-kiệt-đà, có nhiều tín đồ đã tu hành lâu ngày và đã từ trần, mệnh chung, nhiều đến nỗi người ta tưởng hai xứ Anga Ương-già và Magadha đều trống không vì số tín đồ từ trần mệnh chung. Những vị này tin tưởng Phật, tin tưởng Pháp và tin tưởng Tăng, và giới luật đầy đủ. Nhưng Thế Tôn không nói gì về sự từ trần và sự mệnh chung của họ. Lành thay nếu gợi được một câu trả lời về họ, nhờ vậy nhiều người sẽ khởi lòng tin, và từ đó được sanh lên thiện giới. Lại có vua Seniya Bimbisàra Tư-ni-du Tần-bà-sa xứ Magadha sống như Pháp, dùng Chánh pháp trị nước, có lòng thương tưởng các vị Bà-la-môn, Gia chủ, dân chúng thị thành và dân chúng thôn quê. Vua này được dân chúng xưng tán như sau "Vị vua sống như pháp, dùng chánh pháp trị nước, đã làm cho chúng ta sung sướng, vị này mệnh chung. Chúng ta đã sống thật hạnh phúc dưới thời vua sống như Pháp và dùng Chánh pháp trị nước này. Vị vua này cũng tin tưởng Phật, tin tưởng Pháp, tin tưởng Tăng và giới luật đầy đủ". Và dân chúng cũng nói "Cho đến khi mệnh chung, vua Seniya Bimbisàra xứ Magadha luôn luôn tán dương Thế Tôn". Nhưng Thế Tôn không nói gì về sự từ trần và mệnh chung của vị vua này. Lành thay, nếu gợi được câu trả lời về vị vua này, nhờ vậy nhiều người sẽ khởi lòng tin và từ đó được sanh lên thiên giới. Lại nữa Thế Tôn chứng quả Bồ-đề tại Magadha. Thế Tôn đã chứng quả Bồ-đề tại Magadha. Thế Tôn đã chứng Bồ đề ở Magadha tại Magadha thì sao Ngài lại không nói đến về sự từ trần và mệnh chung của các tín đồ ở Magadha? Nếu Thế Tôn không nói gì về sự từ trần và mệnh chung của các tín đồ ở Magadha thời các vị này sẽ đau buồn và nếu các vị này đau buồn thời sao Thế Tôn có thể không trả lời được?". 5. Sau khi đã suy nghĩ một mình, yên lặng, vì các tín đồ ở Magadha, tôn giả Ananda sáng hôm sau thức dậy đến tại chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn - Bạch Thế Tôn con có nghe Thế Tôn thường hay tuyên bố về vấn đề tái sanh của những tín đồ đã từ trần, đã mệnh chung trong các bộ lạc xung quanh, như bộ lạc Kàsi, Kosala, Vajjì, Malla, Ceit, Vamsa, Kuru, Pancàla, Macchà, Sùrasena "Vị này sanh ra tại chỗ này, vị kia sanh ra tại chỗ kia. Hơn năm mươi vị tín đồ ở Nàdikà đã mệnh chung với năm hạ phần kiết sử đã được nhập Niết-bàn không còn trở lại đời này nữa. Hơn chín mươi vị ở Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung với ba kiết sử đã được đoạn trừ, với tham, sân, si được giảm thiểu, chứng quả Nhất Lai, sau khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau. Hơn năm trăm vị ở Nàdikà đã từ trần, đã mệnh chung với ba kiết sử đã được đoạn trừ, chứng quả Dự lưu, nhất định không đọa ác đạo, đạt đến Chánh Giác". Các vị tín đồ ở Nàdikà được nghe Thế Tôn hỏi đáp như vậy lấy làm hoan hỷ, tín thọ, an lạc. 6. Bạch Thế Tôn, nhưng ở tại Magadha có nhiều tín đồ này tu hành lâu ngày và đã từ trần, mệnh chung, nhiều đến nỗi người ta tưởng hai xứ Anga và Magadha đều trống không vì số tín đồ từ trần mệnh chung. Những vị này tin tưởng Phật, tin tưởng Pháp, tin tưởng Tăng và giới luật đầy đủ. Nhưng Thế Tôn không nói gì về sự từ trần và mệnh chung của họ. Lành thay nếu gợi được một câu trả lời về họ, và như vậy nhiều người sẽ khơi lòng tin, và từ đó được sanh lên Thiên giới. Bạch Thế Tôn, lại có vua Seniya Bimbisàra xứ Magadha, sống như Pháp, dùng Chánh pháp trị nước, có lòng thương tưởng các vị Bà-la-môn, Gia chủ, dân chúng thị thành và dân chúng thôn quê. Vua này được dân chúng xưng tán như sau "Vị vua sống như Pháp, và dùng Chánh pháp cai trị nước này. Vị Vua này cũng tin tưởng Phật, tin tưởng Pháp, tin tưởng Tăng và giới luật đầy đủ". Và dân chúng cũng nói "Cho đến khi mệnh chung, vua Seniya Bimbisàra xứ Magadha luôn luôn tán dương Thế Tôn". Nhưng Thế Tôn không nói gì về sự từ trần và mệnh chung của vị vua này. Lành thay nếu gợi được câu trả lời về vị vua này, nhờ vậy nhiều người sẽ khởi lòng tin, và từ đó được sanh lên thiên giới. Bạch Thế Tôn, lại nữa Thế Tôn đã chứng quả Bồ-đề ở Magadha. Thế Tôn đã chứng quả Bồ đề ở Magadha, thời sao Ngài không nói về sự từ trần và mệnh chung của các tín đồ ở Magadha. Nếu Thế Tôn không nói gì về sự từ trần và mệnh chung của các tín đồ ở Magadha, thời các vị này sẽ đau buồn, và nếu các vị này đau buồn thời sao Thế Tôn có thể không thể trả lời được! Tôn giả Ananda, vì các tín đồ ở Magadha, sau khi đã trình lên trước Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, từ tạ ra đi. 7. Sau khi tôn giả Ananda đi ra không bao lâu, Thế Tôn liền đắp y vào buổi sáng, tay cầm y bát, đi vào Nàdikà để khất thực. Khi khất thực ở Nàdikà xong, sau buổi ăn, khi đi khất thực về và rửa chân, Ngài vào ngôi nhà bằng gạch, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, suy nghĩ, tư duy chú lực toàn tâm suy tưởng đến các tín đồ ở Magadha "Ta sẽ tìm ra chỗ thọ sanh của họ, vận mạng của họ. Các Hiền nhân này thọ sanh ở đâu, vận mạng như thế nào?" Thế Tôn thấy được chỗ thọ sanh và vận mạng của các Hiền nhân tín đồ ở xứ Magadha này. Rồi Thế Tôn vào buổi chiều, sau khi tịnh niệm, bước ra khỏi ngôi nhà bằng gạch, rồi ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, dưới bóng ngôi nhà. 8. Rồi Tôn giả Ananda đến tại chỗ Thế Tôn ở, lúc đến xong, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn - Bạch Thế Tôn, Thế Tôn ngó thật là an tịnh; diện sắc của Thế Tôn như là sáng chói nhờ các căn thật sự thanh tịnh. Bạch Thế Tôn Thế Tôn hôm nay an trú có được hoan hỷ không? 9. - Này Ananda, sau khi Ngươi, vì các tín đồ ở Magadha đã nói trước mặt Ta như vậy và đứng dậy ra về, Ta đi khất thực ở Nàdikà xong, sau bữa ăn, khi đi khất thực về và rửa chân, Ta vào ngôi nhà bằng gạch, ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, suy nghĩ tư duy, chú lực toàn tâm suy tưởng đến các tín đồ ở Magadha "Ta sẽ tìm ra chỗ thọ sanh của họ, vận mạng của họ. Các vị Hiền nhân này thọ sanh ở đâu, vận mạng như thế nào?" Rồi Ta thấy được chỗ thọ sanh và vận mạng của các Hiền nhân tín đồ ở xứ Magadha này. Này Ananda, lúc bấy giờ một vị Dạ-xoa Yakkha ẩn mình lớn tiếng nói rằng "Bạch Thế Tôn, con tên là Janavasabha. Bạch Thiện Thệ, con là Janavasabha". Này Ananda, Ngươi từ trước đã từng được nghe ai tên là Janavasabha Xà-ni-sa chưa? - Bạch Thế Tôn, còn từ trước chưa từng được nghe ai tên Janavasabha. Bạch Thế Tôn, khi con nghe tên Janavasabha, con có cảm giác râu tóc bị dựng ngược, Bạch Thế Tôn, con tự nghĩ "Vị Dạ-xoa này không phải là hạng tầm thường, vì đã mang tên Janavasabha". 10. - Này Ananda, khi những lời ấy được nói xong, vị Dạ-xoa ấy hiện ra trước mặt Ta, nhan sắc thật phi thường và lần thứ hai, vị ấy nói "- Bạch Thế Tôn, con là Bimbisàra! Bạch Thế Tôn, con là Bimbisàra! Bạch Thế Tôn, nay là lần thứ bảy con được sanh vào giòng họ vua Vessavana Tỳ-sa-môn Thiên vương. Con chết đi trong địa vị làm vua ở nhơn gian, nay được sanh trên thiên giới, làm bậc phi nhân. Từ đây đến bảy lần Từ kia đến bảy lần Mười bốn lần tái sanh. Như vậy con biết được, ời quá khứ của con. Bạch Thế Tôn, từ lâu con không còn đọa lạc vào ác thú vì con đã hiểu được ác thú, và nay con muốn trở thành bậc Nhất lai. "- Thật hy hữu thay, Hiền giả Dạ-xoa Janavasabha! Thật kỳ diệu thay, Hiền giả Dạ-xoa Janavasabha đã nói với ta 'Bạch Thế Tôn, từ lâu con không còn đọa lạc vào ác thú vì con đã hiểu được ác thú, và nay con muốn trở thành bậc Nhất lai.' Do nguyên nhân gì, Hiền giả Dạ-xoa Janavasabha tự biết mình đã đạt được địa vị cao thượng, thù thắng như vậy?" 11- "Bạch Thế Tôn, không gì khác ngoài giáo lý của Ngài! Từ khi con nhất hướng quy y và tín ngưỡng Thế Tôn, từ khi ấy con không còn đọa lạc vào ác thú, vì con đã hiểu được ác thú, và nay con muốn trở thành bậc Nhất lai. Bạch Thế Tôn, con được vua Vessavana Tỳ-sa-môn Thiên vương nhờ con đi đến vua Virùlhaka Tăng Trưởng Thiên vương có chút công việc, giữa đường con thấy Thế Tôn vào ngôi nhà bằng gạch suy nghĩ tư duy, chú lực toàn tâm suy tưởng đến các tín đồ ở Magadha "Ta sẽ tìm ra chỗ thọ sanh của họ, vận mạng của họ. Các Hiền nhân này thọ sanh ở đâu, vận mạng thế nào? "Bạch Thế Tôn! Không thể kỳ diệu sao được khi con đối mặt tự thân nghe từ miệng vua Vessavana nói với hội chúng của mình, các Hiền nhân này thọ sanh ở đâu, vận mệnh như thế nào? Bạch Thế Tôn! Ta sẽ đề cập vấn đề với Thế Tôn!" Bạch Thế Tôn, đó là hai nguyên nhân khiến con đến yết kiến Thế Tôn! 12. "Bạch Thế Tôn, trong những ngày xưa, những ngày xa xưa, nhân đêm trăng rằm Bố-tát Uposatha trong tháng nhập an cư mùa mưa, toàn thể chư Thiên ở cõi Tàvatimsà Tam thập tam thiên ngồi họp hội tại Thiện Pháp đường Sudhamma. Xung quanh có ại Thiên chúng ngồi khắp mọi phía, tại bốn phương hướng có bốn vị đại vương ngồi. ại vương Dhatarattha Trì Quốc Thiên vương vua ở phương ông, ngồi xây mặt hướng Tây, trước mặt Thiên chúng. ại vương Virùlhaka Tăng Trưởng Thiên vương, vua ở phương Nam ngồi xây mặt hướng Bắc, trước mặt Thiên chúng. ại vương Virùpakkha Quảng Mục Thiên vương vua ở phương Tây, ngồi xây mặt hướng ông, trước mặt Thiên chúng. ại vương Vessavana Tỳ-sa-môn Thiên vương, vua ở phương Bắc, ngồi xây mặt hướng Nam, trước mặt Thiên chúng. Bạch Thế Tôn, khi nào toàn thể chư Thiên ở cõi Tam thập tam thiên ngồi hội họp tại Thiện Pháp đường xung quanh có ại thiên chúng ngồi khắp mọi phía, và tại bốn phương hướng có bốn vị đại vương ngồi, như vậy là thứ tự chỗ ngồi của những vị này, rồi đến chỗ ngồi của chúng con. Bạch Thế Tôn, chư Thiên nào trước sống Phạm hạnh theo Thế Tôn và nay nếu sanh lên cõi Tam thập tam thiên, những vị này thắng xa chư Thiên khác về thân sắc và danh tiếng. Bạch Thế Tôn chư Thiên ở Tam thập tam thiên hoan hỷ, tín thọ, hỷ lạc sanh "Thiên giới thật sự được tăng thịnh, còn A-tu-la giới bị hoại diệt". 13. "Bạch Thế Tôn, lúc bấy giờ Thiện chủ ế thích Sakka Inda thấy chư thiên ở Tam thập tam thiên hoan hỷ, liền tùy hỷ nói lên bài kệ như sau Chư Tam thập tam thiên, Cùng ế-thích hoan hỷ, ảnh lễ bậc Như Lai, Cùng Chánh pháp vi diệu. Thấy Thiên chúng tân sanh, Quang sắc thật thù thắng, Các vị sống Phạm hạnh, Nay sanh tại cõi này. Họ thắng về quang sắc, Thọ mạng và danh xưng, ệ tử bậc ại Tuệ, Thù thắng sanh cõi này. Chư Tam thập tam thiên, Cùng ế-thích hoan hỷ, ảnh lễ bậc Như Lai, Cùng Chánh pháp vi diệu. "Bạch Thế Tôn, chư Thiên ở Tam thập tam thiên lại càng hoan hỷ, tín thọ, hỷ lạc sanh hơn nữa và nói "Thiện giới thật sự được tăng thịnh, còn A-tu-la giới bị hoại diệt". 14. "Bạch Thế Tôn, rồi với mục đích gì chư Thiên ở Tam thập tam thiên ngồi hội họp tại Thiện Pháp đường, các vị này suy tư thảo luận về mục đích ấy. Và tùy thuộc về mục đích ấy, bốn vị đại vương được thuyết giảng. Theo mục đích ấy, bốn vị đại vương được khuyến giáo, bốn vị này đều đứng một bên chỗ ngồi của mình. Các đại vương chấp nhận Lời giảng dạy khuyến giáo. Thanh thoát và an tịnh, ứng bên chỗ mình ngồi. 15. "Bạch Thế Tôn, rồi từ phương Bắc, một ánh sáng vi diệu khởi lên, một hào quang hiện ra, thắng xa oai lực của chư Thiên. Bạch Thế Tôn rồi Thiên chủ Sakka nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên "Này các Thiện hữu, theo các hiện tượng được thấy, ánh sáng khởi lên, hào quang hiện ra như vậy báo hiệu Phạm thiên sẽ xuất hiện. Vì hiện tượng báo hiệu Phạm thiên xuất hiện là ánh sáng khởi lên và hào quang hiện ra". Theo hiện tượng được thấy, Phạm thiên sẽ xuất hiện. Hiện tượng đấng Phạm thiên, Là hào quang vi diệu. 16. "Bạch Thế Tôn, rồi chư Thiên ở Tam thập tam thiên ngồi xuống trên ghế của mình và nói "Chúng tôi sẽ tìm hiểu hậu quả của hào quang này là thế nào sau khi được biết, chúng tôi sẽ đi gặp vị ấy". "Cũng vậy, bốn vị đại vương ngồi xuống trên ghế ngồi của mình và nói "Chúng ta sẽ tìm hiểu hậu quả của hào quang này là thế nào sau khi được biết, chúng tôi sẽ đi gặp vị ấy". Sau khi nghe vậy, chư Thiên ở Tam thập tam thiên đều đồng một lòng một ý "Chúng ta sẽ tìm hiểu hậu quả của hào quang này là thế nào, sau khi được biết, chúng ta sẽ đi gặp vị ấy". 17. "Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanamkumãra Thường ồng hình Phạm thiên xuất hiện trước chư Thiên ở Tam thập tam thiên, ngài xuất hiện với một hóa tướng thô xấu. Bạch Thế Tôn, vì khi Phạm thiên tự nhiên hiện hóa, sắc tướng không đủ thù thắng để chư Thiên ở Tam thập tam thiên khâm phục. Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanamkumàra xuất hiện trước chư Thiên ở Tam thập tam thiên, vị này thắng xa chư Thiên khác về sắc tướng và danh xưng. Bạch Thế Tôn, như một hình tượng bằng vàng chói sáng hơn thân hình con người, cũng vậy, bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanamkumàra xuất hiện trước chư Thiên ở Tam thập tham thiên, vị này thắng xa chư Thiên khác về sắc tướng và danh xưng. Bạch Thế Tôn, như một hình tượng bằng vàng chói sáng hơn thân hình con người, cũng vậy bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanamkumàra hiện ra trước chư Thiên ở Tam thập tam thiên, vị này thắng xa chư Thiên khác về sắc tướng và danh xưng. Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanamkumàra xuất hiện trước chư Thiên ở Tam thập tam thiên, không một vị Thiên nào trong chúng này đảnh lễ, đứng dậy hoặc mời vị Phạm thiên ngồi. Tất cả đều yên lặng, chấp tay, không ngồi trên chỗ ngồi của mình và nghĩ "Này, nếu Phạm thiên Sanamkumàra muốn gì với vị Thiên nào, thời hãy ngồi trên chỗ ngồi của vị Thiên ấy". Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanamkumàra ngồi trên chỗ ngồi của vị Thiên nào, vị Thiên ấy sẽ vô cùng sảng khoái, sẽ vô cùng hoan hỷ. Bạch Thế Tôn, như vị vua Sát-đế-lỵ vừa mới làm lễ quán đảnh và lên vương vị, vị ấy sẽ vô cùng sảng khoái, vô cùng hoan hỷ. Cũng vậy, bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanamkumàra Thường ồng hình Phạm thiên ngồi trên chỗ ngồi của vị Thiên nào, vị Thiên ấy sẽ vô cùng sảng khoái, sẽ vô cùng hoan hỷ. 18. "Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanamkumàra xuất hiện với hình tượng thô xấu, hiện thành một đồng tử tên là Pancasikha Ngũ Kế trước mặt chư Thiên ở Tam thập tam thiên. Bay bổng lên trời, vị này ngồi kiết-già giữa hư không. Bạch Thế Tôn, như một vị lực sĩ ngồi kiết-già trên một chỗ ngồi được trải bằng phẳng hay trên một mặt đất thăng bằng, cũng vậy bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanamkumàra bay bổng trên trời, ngồi kiết-già trên hư không, thấy được sự an tịnh của chư Thiên ở Tam thập tam thiên liền nói lên sự hoan hỷ của mình bằng bài kệ sau đây Chư Tam thập tam thiên Cùng ế-thích hoan hỷ, ảnh lễ bậc Như Lai, Cùng Chánh pháp vi diệu. Thấy Thiên chúng tân sanh Quang sắc thật thù thắng, Các vị sống Phạm hạnh Hay sanh tại cõi này. Chúng thắng về quang sắc Thọ mạng và danh xưng, ệ tử bậc ại Tuệ, Thù thắng sanh cõi này. Chư Tam thập tam thiên Cùng ế-thích hoan hỷ, ảnh lễ bậc Như Lai Cùng Chánh pháp vi diệu. 19. "Bạch Thế Tôn, đó là nội dung lời nói của Phạm thiên Sanamkumàra. Bạch Thế Tôn, tiếng nói của Phạm thiên Sanamkumàra có tám đặc điểm sau đây lưu loát, dễ hiểu, dịu ngọt, nghe rõ ràng, sung mãn, phân minh, thâm sâu và vang động. Bạch Thế Tôn, khi Phạm thiên Sanamkumàra giải thích cho hội chúng với tiếng nói của mình, tiếng nói không vượt ra khỏi đại chúng. Bạch Thế Tôn, một tiếng nói có tám đặc điểm như vậy gọi là Phạm âm. 20. "Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanamkumàra, tự hiện hóa ba mươi hóa thân, mỗi thân ngồi kiết già trên mỗi chỗ ngồi của chư Thiên ở Tam thập tam thiên và nói với chư Thiên, này như sau "- Này Chư Thiện hữu ở Tam thập tam thiên, Quý vị nghĩ thế nào? Thế Tôn phục vụ cho hạnh phúc chúng sanh, an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người. Chư Thiện hữu, những ai quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng và giữ trọn giới luật, những vị này khi thân hoại mệnh chung, một số được sanh lên Thiên chúng Parinimiitta - Vasavati Tha Hóa Tự tại thiên, một số được sanh lên Thiên chúng Nimmànaratì Hóa Lạc thiên; một số được sanh lên Thiên chúng Tusità âu-suất thiên, một số được sanh lên Thiên chúng Yàmà Dạ-ma-thiên, một số được sanh lên Thiên chúng Tà-vatimsà Tam thập tam thiên, một số được sanh lên Thiên chúng Catumàràjikà Tứ Thiên vương thiên, những ai phải điền vào cho đủ số hạ phẩm nhất được sanh vào chúng Gandhabba Càn-thát-bà. 21. "Bạch Thế Tôn, đó là nội dung câu chuyện của Phạm thiên Sanamkumàra. Bạch Thế Tôn, giọng nói của Phạm thiên Sanamkumàra về vấn đề này được nói một cách khiến mỗi vị Thiên nghĩ rằng "Vị ngồi trên chỗ ngồi của ta, chỉ vị ấy nói mà thôi". Chỉ một Phạm thiên nói, Mọi hóa thân đều nói, Chỉ một vị im lặng, Tất cả đều im lặng. Chư Tam thập tam thiên, Cùng ế-thích nghĩ rằng Chỉ vị ngồi chỗ ta, Chỉ vị ấy riêng nói. 22. "Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanamkumàra thâu nhiếp tất cả thân thành một thân, sau khi thâu nhiếp, liền ngồi trên chỗ ngồi của Thiên chủ Sakka và nói với Thiên chúng ở Tam thập tam thiên "- Chư Thiện hữu ở Tam thập tam thiên, Quý vị nghĩ thế nào? Bốn pháp thần túc đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh ẳng Giác, khéo léo giải thích để thần thông được sung mãn, để thần thông được thuần thục, để thần thông được thi thiết. Thế nào là bốn? Ở đây, vị Tỷ-kheo tu tập thần túc, câu hữu dục, thiền định tinh cần hành... tinh tấn thiền định... tâm thiền định... tu tập thần túc, câu hữu với tư duy thiền định, tinh cần hành. Bốn pháp thần túc này đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh ẳng Giác khéo léo giải thích để thần thông được sung mãn, để thần thông được thuần thục, để thần thông được thi thiết. Này các Thiện hữu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong quá khứ đã thưởng thức thần túc thông dưới một hay nhiều hình thức, tất cả đều tu tập và phát triển thần túc này. Này các Thiện hữu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong tương lai sẽ thưởng thức thần túc thông dưới một hay nhiều hình thức, tất cả đều sẽ tu tập và phát triển bốn pháp thần túc này. Này các Thiện hữu, những Sa-môn hay Bà-la-môn nào trong hiện tại thưởng thức thần túc thông dưới một hay nhiều hình thức, tất cả đều tu tập và phát triển bốn pháp thần túc này. Này chư Thiện hữu ở Tam thập tam thiên, Quý vị có thấy ở nơi tôi thần lực như vậy không? "- Có như vậy, Phạm thiên! "- Chư Thiện hữu, tôi nhờ tu tập và phát triển bốn thần túc này mà nay thành tựu đại thần lực như vậy, đại uy đức như vậy. 23. "Bạch Thế Tôn, đó là nội dung câu chuyện của Phạm thiên Sanamkumàra. Bạch Thế Tôn, sau khi nói xong, Phạm thiên Sanamkumàra nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên "- Chư Thiện hữu ở Tam thập tam thiên, quý vị nghĩ thế nào? Ba con đường tắt hướng đến an lạc đã được Thế Tôn bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh ẳng Giác chứng ngộ. Thế nào là ba? "Chư Thiện hữu, ở đây có người thân cận dục lạc, thân cận bất thiện pháp. Sau một thời gian, vị nào được nghe Thánh pháp, như lý tác ý, chứng đắc Chánh pháp và tùy pháp. Và khi nghe được Thánh pháp, như lý tác ý, chứng đắc Chánh pháp và tùy pháp vị này sống không thân cận dục lạc, không thân cận bất thiện pháp. Nhờ sống không thân cận dục lạc, không thân cận bất thiện pháp, an lạc khởi lên, và hơn cả an lạc, hoan hỷ khởi lên. Chư Thiện hữu, như từ thoải mái, hỷ duyệt sanh, cũng vậy, Chư thiện hữu nhờ sống không thân cận dục lạc, không thân cận bất thiện pháp, an lạc khởi lên, và hơn cả an lạc, hoan hỷ khởi lên. Chư Thiện hữu, đó là con đường tắt thứ nhất hướng đến an lạc đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh ẳng Giác chứng ngộ. 24. "Chư Thiện hữu, lại nữa ở đây có người thân hành thô lậu, chưa được an tịnh, khẩu hành thô lậu... ý hành thô lậu chưa được an tịnh, sau một thời gian vị này được nghe Thánh pháp, như lý tác ý, chứng đắc Chánh pháp và tùy pháp. Sau khi được nghe Thánh pháp, thân hành thô lậu của vị này được an tịnh, khẩu hành thô lậu của vị này... ý hành thô lậu của vị này được an tịnh, khẩu hành... ý hành thô lậu của vị này được an tịnh, an lạc khởi lên, và hơn cả an lạc, hoan hỷ khởi lên. Chư Thiện hữu, nhờ từ thoải mái, hỷ duyệt sanh, cũng vậy chư Thiện hữu, nhờ thân hành thô lậu của vị này được an tịnh, khẩu hành... ý hành thô lậu của vị này được an tịnh, an lạc khởi lên, và hơn cả an lạc, hoan hỷ khởi lên. Chư Thiện hữu, đó là con đường tắt thứ hai hướng đến an lạc đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh ẳng Giác chứng ngộ. 25. "Chư Thiện hữu, lại nữa ở đây có người không như thật biết "ây là thiện", không như thật biết "ây là bất thiện", không như thật biết "ây là có tội", "ây là không tội", "đây là hạ liệt", "đây là cao thượng", "đây là đen trắng đồng đều". Sau một thời gian, vị này được nghe Thánh pháp, như lý tác ý, chứng đắc Chánh pháp và tùy pháp. Sau khi được nghe Thánh pháp, như lý tác ý, chứng đắc Chánh pháp và tùy pháp, vị này như thật biết "ây là thiện", như thật biết "ây là bất thiện", như thật biết "ây là có tội", "đây là không tội", "đây cần phải thuận theo", "đây cần phải né tránh", "đây là hạ liệt", "đây là cao thượng", "đây là đen trắng đồng đều". Nhờ biết như vậy, nhờ thấy như vậy, vô minh của vị này được trừ diệt, minh được sanh khởi. Vị này nhờ vô minh được trừ diệt và minh sanh khởi, an lạc khởi lên, và hơn cả an lạc, hoan hỷ khởi lên. Chư Thiện hữu, đó là con đường tắt thứ ba hướng đến an lạc, đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh ẳng Giác chứng ngộ. "Chư Thiện hữu, đó là ba con đường tắt hướng đến an lạc đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh ẳng Giác chứng ngộ. 26. "Bạch Thế Tôn, đó là nội dung câu chuyện Phạm thiên Sanamkumàra. Bạch Thế Tôn, sau khi nói xong, Phạm thiên Sanamkumàra nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên "- Chư Thiện hữu ở Tam thập tam thiên, Quý vị nghĩ thế nào? Bốn Niệm xứ hướng đến chơn thiện đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh ẳng Giác chứng ngộ. Thế nào là bốn? Chư Thiện hữu, ở đây vị Tỷ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Nhờ sống quán thân trên nội thân vị này được chánh định và chánh an tịnh. Nhờ tâm chánh định và chánh an tịnh ở nơi đây, tri kiến được sanh khởi đối với các thân khác ngoài tự thân. Vị Tỷ-kheo sống quán các cảm thọ từ nội thân... quán tâm... quán pháp đối với các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời. Nhờ sống quán pháp đối với các pháp, tâm được chánh định và chánh an tịnh. Nhờ tâm chánh định và chánh an tịnh ở nơi đây, tri kiến được sanh khởi, đối với các pháp khác. "Chư Thiện hữu, bốn Niệm xứ này hướng đến chơn thiện đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh ẳng Giác chứng ngộ". 27. "Bạch Thế Tôn, đó là nội dung câu chuyện của Phạm thiên Sanamkumàra. Bạch Thế Tôn, sau khi nói xong, Phạm thiên Sanamkumàra nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên "- Chư Thiện hữu ở Tam thập tam thiên, Quý vị nghĩ thế nào về bảy pháp ịnh tư lương Samàdhi-parikkhàrà để tu hành chánh định, để kiện toàn thiền định, đã được Thế Tôn, bậc Trí Giả, bậc Kiến Giả, bậc Ứng Cúng, Chánh ẳng Giác chứng ngộ? Thế nào là bảy? Như chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm. Chư Thiện hữu, nhứt cảnh tánh của tâm do bảy chi này sửa soạn, được gọi là thánh chánh định cùng với các y chỉ và dùng với các tư lương. Chư Thiện hữu, chánh tư duy vừa đủ để chánh tri kiến sanh khởi, chánh ngữ vừa đủ để chánh tư duy sanh khởi, chánh nghiệp vừa đủ để chánh ngữ sanh khởi, chánh mạng vừa đủ để chánh nghiệp sanh khởi, chánh tinh tấn vừa đủ để chánh mạng sanh khởi, chánh niệm vừa đủ để chánh tinh tấn sanh khởi, chánh định vừa đủ để chánh niệm sanh khởi, chánh trí vừa đủ để chánh định sanh khởi, chánh giải thoát vừa đủ để chánh trí sanh khởi. "Chư Thiện hữu, nếu có người nói lời chánh ngữ sau đây "Chánh pháp đã được Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, pháp ấy có kết quả ngay trong hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, hướng dẫn đến đích, được những người có trí tự mình giác hiểu, cửa bất tử được rộng mở". Nói như vậy là chánh ngữ. Chư Thiện hữu, vì chánh pháp thật sự đã được Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, pháp ấy có kết quả ngay trong hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến để mà thấy, hướng dẫn đến đích, được những người có trí tự mình giác hiểu, cửa bất tử được rộng mở. "Chư Thiện hữu, những ai tin tưởng Phật không có thối chuyển, tin tưởng Pháp không có thối chuyển, tin tưởng Tăng không có thối chuyển, đầy đủ giới hạnh khiến bậc Thánh hoan hỷ, tất cả những vị được hóa sanh được Chánh pháp hướng dẫn, hơn hai trăm bốn mươi vạn vị cư sĩ ở Magadha đã từ trần mệnh chung, những vị này đều diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, không còn đọa vào ác thú, chắc chắn đạt đến chánh giác. Lại có những vị Nhất lai Với hạng chúng sanh này Ước lượng phần công đức. Không thể ước lượng được Sợ phạm tội vọng ngữ. 28. "Bạch Thế Tôn, đó là nội dung câu chuyện của Phạm thiên Sanamkumàra. Bạch Thế Tôn, được biết nội dung câu chuyện của Phạm thiên Sanamkumàra, đại vương Vessavana khởi lên suy tư sau đây "Chư Thiện hữu, thật là kỳ diệu! Chư Thiện hữu, thật là hy hữu, được có một ại sư thù thắng như vậy, một pháp thoại thù thắng như vậy, được một con đường đặc biệt như vậy". "Bạch Thế Tôn, Phạm thiên Sanamkumàra tự tâm mình biết được tâm trí của đại vương Vessavana như vậy, liền thưa với đại vương "- ại vương Vessavana nghĩ như thế nào? Trong thời quá khứ đã có một ại sư thù thắng như vậy, một pháp thoại thù thắng như vậy, đã được trình bày một con đường đặc biệt như vậy... Trong thời gian tương lai, sẽ có một ại sư thù thắng như vậy, một pháp thoại thù thắng như vậy, sẽ được trình bày một con đường đặc biệt như vậy". 29. ó là nội dung câu chuyện của Phạm thiên Sanamkumàra nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên. ại vương Vessavana sau khi tự thân nghe, tự thân chấp nhận câu chuyện của Phạm thiên Sanamkumàra nói với chư Thiên ở Tam thập tam thiên, liền nói với chúng của mình. Dạ-xoa Janavasabha sau khi tự thân nghe, tự thân chấp nhận câu chuyện của đại vương Vessavana nói với hội chúng, liền bạch lại với Thế Tôn. Thế Tôn sau khi tự thân nghe, tự thân chấp nhận câu chuyện của Dạ-xoa Janavasabha, và sau khi tự mình chứng tri liền nói lại cho tôn giả Ananda. Tôn giả Ananda sau khi tự thân nghe, tự thân chấp nhận câu chuyện của Thế Tôn liền nói lại cho chúng Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo-ni, nam cư sĩ và nữ cư sĩ. Phạm hạnh này được hưng thịnh, được quảng bá, được truyền rộng cho đại chúng càng ngày càng đông, vì được khéo léo trình bày cho loài thành cám ơn anh HDC và nhóm Phật tử VH đã có thiện tâm gửi tặng ấn bản điện tử. Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ "The Long Discourses of the Buddha", Maurice Walshe dịch, 1987. NSGN -Trong nhiều cách hiểu khác nhau về cụm từ kinh điển phi Phật thuyết, thì cách hiểu, đó là những kinh điển không phải do chính Đức Phật tuyên thuyết, mà do những đệ tử có thẩm quyền của Ngài thuyết giảng, là nghĩa cơ bản được sử dụng trong bài viết này. Đã có nhiều hoài nghi xoay quanh về nguồn gốc, cũng như quá trình hình thành một vài bộ kinh Đại thừa, của nhiều nhà nghiên cứu Phật học. Cụ thể, đó là những quan điểm cho rằng, kinh điển Đại thừa được hình thành là do các vị Bồ-tát, hoặc do những luận sư có thẩm quyền trước thuật1. Và cũng từ đây, đã mở ra một nếp nghĩ không chính thức, khi cho rằng, chỉ có những kinh điển thuộc hệ Đại thừa, mới có những bản kinh không phải do chính Đức Phật tuyên thuyết. Đây là một nếp nghĩ chưa thấu đạt, tinh tường. Vì lẽ, khi khảo sát bốn bộ kinh Nikaya, chúng tôi đã phát hiện ra có khá nhiều kinh văn không phải do chính Đức Phật tuyên thuyết. Về số lượng kinh điển Từ kết quả khảo sát bước đầu cho thấy - Kinh Trường bộ có 6 kinh. Bao gồm kinh Subha, số 10; kinh Tệ-túc, số 23; kinh Tự hoan hỷ, số 28; kinh A-sá-nang-chi, số 32; kinh Phúng tụng, số 33 và kinh Thập thượng số 34. - Kinh Trung bộ có 31 kinh. Bao gồm kinh Không uế nhiễm, số 5; kinh Chánh tri kiến, số 9; kinh Tư lượng, số 15; kinh Mật hoàn, số 18; kinh Trạm xe, số 24; Đại kinh dụ dấu chân voi, số 28; Đại kinh Phương quảng, số 43; Tiểu kinh Phương quảng, số 44; kinh Hàng ma, số 50; kinh Bát thành, số 52; kinh Hữu học, số 53; kinh Gulissani, số 69; kinh Sandaka, số 76; kinh Ratthapala, số 82; kinh Madhura, số 84; kinh Bahitika, số 88; kinh Pháp trang nghiêm, số 89; kinh Bhrahmayu, số 91; kinh Ghotamukha, số 94; kinh Dhananjani, số 97; kinh Gopaka Moggallana, số 108; kinh Hành trì không nên hành trì, số 114; kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp, số 123; kinh Bạc Câu La, số 124; kinh A Na Luật, số 127; kinh Đại Ca Chiên Diên nhất dạ hiền giả, số 133; kinh Tổng thuyết và biệt thuyết, số 138; kinh Phân biệt về sự thật, số 141; kinh Giáo giới Cấp Cô Độc, số 143; kinh Giáo giới Channa, số 144; kinh Giáo giới Nandaka, số 146. - Kinh Tăng chi bộ, có 23 kinh. Bao gồm chương 2 pháp, phẩm Tâm thằng bằng, kinh Đất, phần 6; chương 3 pháp, phẩm Người, kinh Chứng thực với thân; chương 3 pháp, phẩm Ananda, kinh Tà mạng đệ tử; chương 3 pháp, phẩm Ananda, kinh Người họ Thích; chương 3 pháp, phẩm Ananda, kinh Vị lõa thể; chương 4 pháp, phẩm Các căn, kinh Thối đọa; chương 4 pháp, phẩm Các căn, kinh Tỳ-kheo-ni; chương 4 pháp, phẩm Đại hành, kinh Gắn liền cột chặt; chương 4 pháp, phẩm Tư tâm sở, kinh Kotthita; chương 4 pháp, phẩm Tư tâm sở, kinh Upavana; chương 4 pháp, kinh Niết-bàn; chương 4 pháp, Đại phẩm, kinh Các vị Sapuga; chương 5 pháp, phẩm Năm phần, kinh Giải thoát xứ; chương 6 pháp, phẩm Dhammika, kinh Mahacunda; chương 9 pháp, phẩm Chánh giác, kinh Tôn giả Nandaka; chương 9 pháp, phẩm Chánh giác, kinh Cần phải thân cận; chương 9 pháp, Đại phẩm, kinh Niết-bàn; chương 10 pháp, phẩm Lớn, kinh Những câu hỏi lớn 2; chương 10 pháp, phẩm Tâm của mình, kinh Tổn giảm; chương 10 pháp, phẩm Song đôi, kinh Tại Nalakapàna 1; chương 10 pháp, phẩm Trưởng lão, kinh Nói lên chánh trí; chương 10 pháp, phẩm Trưởng lão, kinh Khoe khoang; chương 10 pháp, phẩm Trưởng lão, kinh Câu hỏi về chánh trí. - Kinh Tương ưng bộ, có 16 kinh. Bao gồm tập 1, chương 1, Tương ưng chư thiên, phẩm Quần tiên, kinh Lòng tin; tập 1, chương 1, Tương ưng chư thiên, phẩm Quần tiên, kinh Tụ hội; tập 1, chương 1, Tương ưng chư thiên, phẩm Quần tiên, kinh Miếng đá vụn ; tập 1, chương 1, Tương ưng chư thiên, phẩm Quần tiên, kinh Con gái của Pajjunna; tập 1, chương 1, Tương ưng thiên tử, phẩm Các ngoại đạo, kinh Jantu; tập 1, chương 9, Tương ưng rừng, kinh Viễn ly; tập 1, chương 9, Tương ưng rừng, kinh Ananda; tập 1, chương 9, Tương ưng rừng, kinh Sen hồng hay sen trắng; tập 1, chương 10, Tương ưng Dạ-xoa, kinh Sukka; tập 3, chương 1, Tương ưng uẩn, phần a, Năm mươi kinh căn bản, phẩm Nakulapita, kinh Nakulapita; tập 3, chương 1, Tương ưng uẩn, phần a, Năm mươi kinh căn bản, phẩm Nakulapita, kinh Hàliddikàni; tập 3, chương 1, Tương ưng uẩn, phần e, phẩm Trưởng lão, kinh Khemaka; tập 4, chương 1, Tương ưng sáu xứ, phần g, phẩm Rắn độc, kinh Dục lậu; tập 4, chương một, Tương ưng sáu xứ, phần b, phần 2, Năm mươi kinh thứ hai, Phẩm thế giới dục công đức, kinh Lohicca; tập 4, chương 1, Tương ưng sáu xứ, phần b, phần 2, Năm mươi kinh thứ hai, phẩm Thế giới dục công đức, kinh Verahaccàni; tập 4, chương 4, Tương ưng Jambukhàdaka, kinh Nibbana. Như vậy, qua khảo sát sơ bộ, hiện có 76 kinh phi Phật thuyết trong bốn bộ Nikaya. Thực ra, số lượng kinh phi Phật thuyết trong bốn bộ Nikaya còn gấp nhiều lần như thế. Vì lẽ, do tính chất đặc thù và số lượng phong phú của hai bộ kinh Tăng chi và Tương ưng, nên chúng tôi chỉ khảo sát hai bộ kinh này mang tính chọn điểm, trên một số khu vực hạn định. Về tác giả, bối cảnh xuất hiện, tính chất và niên đại Thành phần tác giả của những kinh văn phi Phật thuyết rất phong phú, đa dạng, bao gồm các đại đệ tử của Đức Phật cho đến các vị Thiên, quốc vương và ngay cả hàng Bà-la-môn ngộ đạo. Có thể điểm qua một số tôn danh như Tôn giả Kumàra Kassapa2, tôn giả Sariputta3, Tôn giả Maha Moggallana4, Tôn giả Ananda5, Tôn giả Maha Kaccana6, Tôn giả Anuruddha7, Tôn giả Bakkula8, tôn giả Nandaka9, Tôn giả Ratthapala10, Tôn giả Udena11, Tỳ-kheo-ni Dhammadinna12, Tỳ-kheo-ni Sukka13, Tỳ-kheo-ni Kajangalà14 Đại vương Vessavana15, Vua Pasenadi16, Bà-la-môn Bhrahmayu17 và đông đảo chư Thiên18. Về bối cảnh xuất hiện những bài kinh do đệ tử Phật tuyên thuyết cũng rất phong phú. Thứ nhất, đôi khi Đức Phật bị đau lưng nên đã chỉ định các đệ tử thay Ngài thuyết giảng19. Thứ hai, có lúc vì thấy Như Lai không khỏe nên các đệ tử đã chủ động thay Ngài thuyết giảng cho người cầu pháp20. Thứ ba, các vị Thánh đệ tử trên bước đường du hóa, do yêu cầu của tha nhân nên đã tùy nghi thuyết giảng21. Thứ tư, Đức Phật chỉ dạy những điểm căn bản, vắn tắt, và sau đó có một vị Thánh đệ tử mở rộng ý nghĩa này ra22. Thứ năm, trong một số trường hợp đặc biệt, có những vị đệ tử tự thuật lại nguyên nhân mình đến với Đạo, hoặc tôn vinh Đức Phật, hoặc cống hiến những giải pháp nhằm hộ trì Tam bảo. Những sự kiện đó chuyên chở chất liệu phạm hạnh, đem đến mục tiêu giải thoát cho nhiều người, nên cũng được xác lập như những bản kinh23. Trong những trường hợp vừa nêu, có những bản kinh sau khi các đệ tử tuyên thuyết, thì được Đức Phật ấn chứng và đôi lúc không có được sự ấn chứng cần thiết này. Ở đây, có một đặc điểm dễ nhận thấy, đó là những bản kinh thuộc dạng này, phần lớn là sự trùng tuyên, hoặc mở rộng, giải nghĩa những giáo lý căn bản như Duyên sinh, Vô thường, Vô ngã, Tứ đế… mà Đức Phật đã giảng dạy trước đó. Đây là thuộc tính quan trọng của những bộ kinh này. Nói rõ hơn, mặc dù mang danh là những bộ kinh do đệ tử Đức Phật tuyên thuyết, thế nhưng phần lớn chỉ là sự quảng diễn những giáo nghĩa căn bản, mà Đức Phật là người đầu tiên đã phát kiến ra. Xét về thời điểm xuất hiện, thì phần lớn những kinh văn phi Phật thuyết ra đời trong khi Đức Phật còn tại thế. Tuy nhiên, theo khảo sát của chúng tôi, thì ít nhất có bốn bản kinh ra đời trong bối cảnh đặc biệt. Đó là những trường hợp, mặc dù Đức Phật đã nhập Niết-bàn, nhưng các đệ tử của Ngài vẫn còn độc lập thuyết kinh. Đó là bài kinh Subha, số 10, thuộc tập 1 trong kinh Trường bộ, do tôn giả Ananda tuyên thuyết. Ba bài kinh còn lại đều nằm trong kinh Trung bộ. Đó là kinh Madhura, số 84 do Tôn giả Maha Kaccana thuyết giảng, kinh Ghotamukha, số 94, do Tôn giả Udena thuyết giảng và cuối cùng là kinh Gopaka Moggallana, số 108 do Tôn giả Ananda thuyết giảng. Từ sự kiện này cho thấy, mặc dù Đức Phật đã diệt độ, nhưng các đệ tử của Ngài có đủ năng lực tuệ giác, vẫn có thẩm quyền thuyết giảng kinh điển. Theo chúng tôi, đây là một trong những cơ sở làm tiền đề, để các bộ kinh điển thuộc hệ Đại thừa xuất hiện về sau. Kết luận Từ khảo sát bước đầu cho thấy, kinh tạng Nikaya không chỉ lưu lại những bài kinh do chính Đức Phật tuyên thuyết, mà còn bao hàm nhiều bài kinh của những đệ tử của Ngài, hiện được trân trọng giữ gìn trong Kinh tạng. Mặc dù thể loại này chiếm một số lượng khá khiêm tốn như khảo sát đã chỉ ra, nhưng qua đó đã cho thấy, tạng kinh Nikaya cũng còn nhiều vấn đề cần phải khảo cứu, mà cụ thể là đối với những bản kinh không phải do chính Đức Phật tuyên thuyết. Trên một phương diện khác, cần phải thấy rằng, chân lý mà Đức Phật thân chứng không hẳn chỉ gói gọn trong Ba tạng kinh điển Nikaya. Chiêm nghiệm sâu thêm lời dạy của Đức Phật, khi Ngài so sánh những điều mà Ngài đã thắng tri thì nhiều vô số như lá trong rừng, còn những điều mà Ngài đã dạy thì ít ỏi như lá trong tay24. Ẩn dụ này đồng thời chuyên chở một thông điệp quan trọng, gián tiếp cho phép các vị Thánh đệ tử đầy đủ năng lực tuệ giác, có thể triển khai và chỉ bày chân lý. Từ bốn bài kinh do nhưng cao đệ của Đức Phật thuyết giảng sau khi Ngài viên tịch, được phát hiện từ việc khảo sát25, đã mở ra một hướng lý giải về những tồn nghi, xoay quanh những bộ kinh có niên đại xuất hiện khá muộn, trong dòng chảy của các kinh văn thuộc hệ phát triển, Đại thừa. Ở đây, mặc dù có những bản kinh xuất hiện sau khi Đức Phật nhập diệt, do các vị Thánh đệ tử tuyên thuyết, nhưng khoan vội quy kết cho rằng, nội dung của chúng trái ngược với tôn chỉ căn bản của Đức Thế Tôn. Với tinh thần đó, người học Phật cần có một thái độ tỉnh táo và cân nhắc, trong khi tiếp cận với tư liệu kinh văn của các truyền thống Phật giáo. Tin được kinh giáo là điều khó, thế nhưng tin một cách có chọn lọc, có thẩm sát, là tâm thế cần có của bất cứ ai khi dấn thân học Phật. Chú thích 1 Đó là trường hợp kinh Hoa nghiêm, tương truyền là do ngài Long Thọ trước thuật. 2 Kinh Trường bộ, kinh Tệ túc, số 23. 3 Kinh Trường bộ kinh Tự hoan hỷ, số 28, kinh Phúng tụng, số 33, kinh Thập thượng số 34. Ở Trung bộ kinh Không uế nhiễm, số 5; kinh Chánh tri kiến, số 9; kinh Trạm xe, số 24; Đại kinh dụ dấu chân voi, số 28; Đại kinh Phương quảng, số 43; kinh Gulisani, số 69; kinh Dhananjani, số 97; kinh Hành trì không nên hành trì, số 141; kinh Giáo giới Cấp Cô Độc, số 143; kinh Giáo giới Channa, số 144. 4 Kinh Trung bộ kinh Tư lượng, số 15, kinh Hàng ma, số 50. 5 Kinh Trường bộ kinh Subha, số 10. Ở Trung bộ kinh Bát thành, số 52; kinh Hữu học, số 53; kinh Sandaka, số 76; kinh Bahitika, số 88; kinh Golaka Moggallana, số 108; kinh Hy hữu vị tằng hữu pháp, số 123. 6 Kinh Trung bộ kinh Mật hoàn, số 18; kinh Madhura, số 84; kinh Ca Chiên Diên nhất dạ hiền giả, số 133; kinh Tổng thuyết và biệt thuyết, số 138. 7 Kinh Trung bộ kinh A Na Luật, số 127. 8 Kinh Trung bộ kinh Bạc Câu La, số 124. 9 Kinh Trung bộ kinh Giáo giới Nadaka, số 146. 10 Kinh Trung bộ kinh Ratthapala, số 82 11 Kinh Trung bộ kinh Ghotamukha, số 94. 12 Kinh Trung bộ Tiểu kinh phương quảng, số 44. 13 Kinh Tương ưng, tập 1, chương 10, Tương ưng Dạ xoa, kinh Sukka. 14 Kinh Tăng chi, chương 10 pháp, phẩm Lớn, kinh Những câu hỏi lớn. 15 Kinh Trường bộ kinh A-sá-nang-chi, số 32. 16 Kinh Trung bộ kinh Pháp trang nghiêm, số 89. 17 Kinh Trung bộ kinh Bhrahmayu, số 91. 18 Kinh Tương ưng, tập 1, chương 1, Tương ưng chư Thiên, phẩm Quần tiên. 19 Đó là trường hợp được ghi lại trong bài kinh Phúng tụng, số 33, thuộc Trường bộ. Trường hợp khác, Đức Phật cũng bị đau lưng nên chỉ định Tôn giả Moggallana thuyết giảng thay Ngài. Trường hợp này xuất hiện trong bài kinh Hữu học, số 53, thuộc kinh Trung bộ. 20 Kinh Tăng chi, chương 3 pháp, phẩm Ananda, kinh Người họ Thích. 21 Kinh Trung Bộ, Tiểu kinh phương quảng, số 44. 22 Xem thêm, kinh Mật hoàn, số 18. 23 Xem thêm, kinh Trung bộ, kinh Ratthapala, số 82; kinh Pháp trang nghiêm, số 89; kinh Brahmayu, số 91; kinh Trường bộ, kinh A-sá-nang-chi, số 32. 24 Kinh Tương ưng, tập 5, chương 12, Tương ưng sự thật, phần a, phẩm Rừng Simsapa, kinh Simsapa. 25 Kinh Trường bộ, kinh Subha, số 10; kinh Trung bộ, kinh Madhura, số 84; kinh Trung bộ, kinh Ghotamukha, số 94; kinh Trung bộ, kinh Gopaka Moggallana, số 108. HƯỚNG DẪN SỬ DỤNG SÁCH GIÁO LÝ DỰ TÒNG “Sách Giáo Lý phải trình bày một cách trung thành và có hệ thống giáo huấn của Thánh Kinh, Truyền Thống sống động trong Hội Thánh và Huấn Quyền đích thực, cũng như gia sản thiêng liêng của các Giáo Phụ, các thánh nam nữ của Hội Thánh, để có thể giúp người ta hiểu biết hơn về Mầu nhiệm Kitô giáo và làm sinh động đức tin của dân Thiên Chúa.” Tông hiến KHO TÀNG ĐỨC TIN số 3, ngày 11-10-1992 Dạy đức tin là đưa người ta đến với Chúa Kitô và gặp được Ngài bằng cách sống đạo. Biết mà không sống hoặc không có cơ hội hay thói quen đưa đến thực hành là một thiếu sót. Vì thế chúng tôi theo đường lối dẫn giải sau đây I. DIỄN TIẾN MỘT TIẾT DẬY GIÁO LÝ 1. Cầu nguyện đầu giờ. 2. Công bố Lời Chúa. 3. Trình bầy bài giáo lý. 4. Cầu nguyện theo nội dung bài giáo lý. 5. Tóm lược. 6. Quyết tâm sống. 7. Cầu nguyện kết thúc. II. TRÌNH BẦY CÁC PHẦN TRONG DIỄN TIẾN TRÊN 1. Cầu nguyện đầu giờ Giúp cho Dự Tòng cầu nguyện bằng cách đọc thuộc các Kinh thông dụng. Đầu giờ học nên dành ra khoảng 5 phút để đọc một loạt các kinh thông dụng; chẳng hạn Kinh Chúa Thánh Thần, Lạy Cha, Kính Mừng, Sáng Danh, Tin, Cậy, Mến, Ăn năn tội... hoặc thêm kinh này bỏ kinh kia, và lời cầu nguyện của bài học lần trước. Dĩ nhiên, việc học kinh là quá dễ dàng không cần phải tốn thì giờ, song cũng đừng quá trông chờ vào việc tự học riêng. Tốt hơn hết, nên lợi dụng thời gian theo học ở lớp để vừa học kinh vừa cầu nguyện, và vừa học vừa nhớ bài. Ngay cả việc làm Dấu Thánh Giá cũng nên tập ngay từ đầu cho các Dự Tòng làm chậm rãi với tất cả sự ý thức về đức tin mình tuyên xưng. Thói quen cầu nguyện sẽ tạo thành truyền thống, và truyền thống sẽ giúp ích rất nhiều cho đời sống đạo. 2. Công bố Lời Chúa Sau phần cầu nguyện đầu giờ là phần công bố Lời Chúa. Lời Chúa được công bố là số chương, số câu ghi ở đầu bài. Có bài phần công bố Lời Chúa chỉ có một câu. Trường hợp Lời Chúa có nhiều câu, chúng tôi ghi lại câu tóm lược ý chính của đoạn Lời Chúa để dễ gợi ý, dẫn giải. Trước khi công bố Lời Chúa, chúng ta dùng một câu chuyện hoặc một sự kiện thời sự hoặc một vài lời gợi ý để giúp người dự tòng chuẩn bị tâm hồn lắng nghe Lời Chúa. Công bố Lời Chúa * Giáo lý viên hay người dự tòng công bố. * Kết thúc đọc Đó là Lời Chúa. 3. Trình bầy bài học giáo lý. - Giúp cho Dự Tòng nhớ những điều căn bản ngay tại lớp. Đầu tiên là nhắc lại quyết tâm của bài học lần trước để các dự tòng tự kiểm. Dành phần lớn thời gian buổi học cho việc ôn lại các điểm chính yếu đã học lần trước hoặc từ đầu khoá học, theo cách tổng hợp, liên kết các bài học. Ôn tập bằng cách đặt ra những câu hỏi cho các Dự Tòng để nắm chắc sự lĩnh hội của từng Dự Tòng. Ghi lại trên bảng những ý chính bằng những sơ đồ giúp liên tưởng và dễ nhớ. Sau đó mới trình bày bài mới một cách chi li từng vấn đề, lâu lâu lại tóm lược ý chính và không ngại nhắc đi nhắc lại những câu hỏi tóm lược để Dự Tòng có thể thuộc bài ngay tại lớp; và hướng họ đến những quyết tâm hoán cải cụ thể. Mục đích là biết những điều chính yếu cách mạch lạc thì hơn là chồng chất những chi tiết tản mạn. - Giúp cho Dự Tòng làm quen với sách Thánh Kinh. Thánh Kinh Cựu Ước không dễ có trong tầm tay của các Dự Tòng, vì thế chúng tôi cho trích các đoạn văn quan trọng liên hệ đến lịch sử cứu độ thời Cựu Ước. Thánh Kinh Tân Ước thì khá phổ thông, hoặc ít ra Giáo Lý Viên cũng có thể mang tới cho Dự Tòng tham khảo tại lớp. Dạy cho các Dự Tòng biết cách mở sách Thánh Kinh, biết cách trích dẫn các số chương số câu, và yêu cầu một Dự Tòng đọc hoặc cả lớp đọc các đoạn Thánh Kinh liên hệ tới bài học. Vì thế, tập sách này phải được truyền đạt kèm theo cuốn Tân Ước. Thi thoảng có thể kết thúc giờ học bằng cách cho các Dự Tòng cùng đọc một đoạn Thánh Kinh, kèm theo lời cầu nguyện dẫn giải của Giảng Viên. - Giúp cho Dự Tòng theo học một cách nhẹ nhàng, dễ hiểu bằng những câu chuyện, những hình ảnh rất cần một bản đồ nước Do Thái, những so sánh, những ví dụ cụ thể ..., nhất là một số bài hát hát cũng là một cách cầu nguyện tốt và có âm hưởng trong đời sống. 4. Cầu nguyện theo nội dung bài giáo lý. Sau khi đã hiểu bài giáo lý,chúng ta dẫn người dự tòng đến gặp gỡ Chúa qua những giây phút cầu nguyện. 5. Học thuộc lòng các câu tóm lược. Nên cho người dự tòng đọc nhiều lần câu tóm lược để họ nắm vững ý chính và thuộc lòng ngay tại lớp. 6. Quyết tâm sống . Từ bài học giáo lý,chúng ta rút ra một quyết tâm sống. Chúng ta có thể dựa vào quyết tâm được đề nghị trong sách hoặc tùy hoàn cảnh của người dự tòng đưa ra một quyết tâm phù hợp và đề nghị họ sống trong tuần. Lần sau,khi học bài mới,chúng ta sẽ giúp họ xét lại xem họ đã sống quyết tâm đó như thế nào. 7. Cầu nguyện kết thúc. Chúng ta cho người dự tòng đọc các kinh như kinh Tin kính, Cám ơn, Trông cậy, Ba câu lậy, hoặc lần hạt một chục. III. GIÚP NGƯỜI DỰ TÒNG LÀM QUEN VỚI SINH HOẠT TÔN GIÁO 1. Giúp cho Dự Tòng làm quen với các sinh hoạt tôn giáo để vừa biết đạo, vừa sống đạo như tham dự Thánh Lễ,Chầu Thánh Thể ... 2. Sinh hoạt cộng đoàn dự tòng Thỉnh thoảng nên có một buổi gặp gỡ chung giữa các dự tòng và Cha xứ, các giáo lý viên, các người đỡ đầu, một số tín hữu nhiệt thành để -Trao đổi cảm nghĩ, kinh nghiệm, thắc mắc. -Học hỏi chung về một vấn đề. -Bàn cách làm việc tông đồ. -Cầu nguyện chung,suy niệm lời Chúa. 3. Giáo Xứ cần tổ chức ba giai đoạn khai tâm Kitô giáo, một truyền thống đã có từ buổi sơ khai của Hội Thánh, để các Dự Tòng từng bước làm quen với cộng đoàn phụng vụ -Giai đoạn I Nghi thức Tiếp Nhận Dự Tòng và Xức Dầu Dự Tòng được cử hành sau khi đã học được một thời gian ngắn. -Giai đoạn II Nghi thức Ghi danh, Tuyển Chọn và Trao Kinh Tin Kính và kinh Lạy Cha, sau khi đã học gần xong Giáo lý đức tin. -Giai đoạn III Cử hành ba bí tích khai tâm gia nhập Hội Thánh Công Giáo. Trong thời gian này vừa ôn tập, vừa bổ túc, và có thể học thêm Giáo Lý Hôn Nhân trước khi được Rửa Tội. Cả ba giai đoạn này nên cử hành trong thánh lễ của cộng đoàn, có sự hiện diện của người đỡ đầu và thân nhân, để Giáo Xứ hiệp thông và cầu nguyện cho các Dự Tòng. Lợi dụng lúc tập các nghi thức này để giới thiệu cụ thể với các Dự Tòng về địa điểm, tượng ảnh, ý nghĩa vật dụng, cách bái lạy, đi đứng trong nhà thờ. 4. Thời gian học giáo lý. Một Dự Tòng siêng năng kèm theo một chút thông minh có thể tiếp thu Giáo Lý Đức Tin trong một thời gian rất ngắn, nhưng chưa hẳn là đã xác tín để theo đạo và sống đạo. Thời gian học Giáo Lý Dự Tòng phải kéo dài ít nhất trong 3 tháng, mỗi tuần học 2 buổi, mỗi buổi một như vậy, mới mong giúp cho các Dự Tòng có một xác tín tôn giáo để rồi khi đã lựa chọn thì dấn thân đi đến cùng. BẢN KINH THÔNG DỤNG 1* DẤU THÁNH GIÁ Nhân danh Cha + và Con và Thánh Thần . Amen. hoăc Nhân danh Chúa Cha + và Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Amen. dấu kép Lạy Chúa chúng con, vì dấu + Thánh Giá, xin chữa + chúng con, cho khỏi + kẻ thù. Nhân danh Cha + và Con và Thánh Thần. Amen. 2 * KINH SÁNG SOI Cúi xin Chúa sáng soi / cho chúng con được biết việc phải làm, cùng khi làm xin Chúa giúp đỡ cho mỗi kinh mỗi việc chúng con, từ khởi sự cho đến hoàn thành, đều nhờ bởi ơn Chúa. Amen. 3* KINH ĐỨC CHÚA THÁNH THẦN Chúng con lạy ơn Đức Thánh Thần / thiêng liêng sáng láng vô cùng. Chúng con xin Đức Chúa Thánh Thần xuống / đầy lòng chúng con, là kẻ tin cậy Đức Chúa Trời, và đốt lửa kính mến Đức Chúa Trời trong lòng chúng con. - Chúng con xin Đức Chúa Trời cho Đức Chúa Thánh Thần xuống, - Sửa lại mọi sự trong ngoài chúng con. Chúng con cầu cùng Đức Chúa Trời, xưa đã cho Đức Chúa Thánh Thần xuống / soi lòng dạy dỗ các thánh tông đồ, thì nay chúng con cũng xin Đức Chúa Trời / cho Đức Chúa Thánh Thần lại xuống, an ủi dạy dỗ chúng con / làm những việc lành. Vì công nghiệp vô cùng Đức Chúa Giêsu Kitô là Chúa chúng con. Amen. 4* KINH TIN Lạy Chúa con, con tin thật các một Đức Chúa Trời / là Đấng thưởng phạt vô cùng. Con lại tin thật Đức Chúa Trời có ba ngôi, mà Ngôi Thứ Hai đã xuống thế làm người, chịu nạn chịu chết mà chuộc tội cho thiên hạ. Bấy nhiêu điều ấy / cùng các điều Hội Thánh dạy, thì con tin vững vàng, vì Chúa là Đấng thông minh, và chân thật vô cùng / đã phán truyền cho Hội Thánh. Amen 5* KINH CẬY Lạy Chúa con, con trông cậy vững vàng / vì công nghiệp Đức Chúa Giêsu, thì Chúa sẽ ban ơn cho con / giữ đạo nên ở đời này, cho ngày sau được lên thiên đàng / xem thấy mặt Đức Chúa Trời / hưởng phước đời đời, vì Chúa là Đấng phép tắc / và lòng lành vô cùng / đã phán hứa sự ấy / chẳng có lẽ nào sai được. Amen. 6* KINH MẾN Lạy Chúa con, con kính mến Chúa hết lòng hết sức, trên hết mọi sự, vì Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng; lại vì Chúa / thì con thương yêu người ta / như mình con vậy. Amen. 7* KINH LẠY CHA Lạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện danh Cha cả sáng, Nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên trời. Xin Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày, và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ . Amen. 8* KINH KÍNH MỪNG Kính mừng Maria đầy ơn phước, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phước lạ hơn mọi người nữ, và Giêsu con lòng Bà gồm phước lạ. Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử. Amen. 9* KINH SÁNG DANH Sáng danh Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần Như đã có trước vô cùng, và bây giờ, và hằng có, và đời chẳng cùng. Amen. 10 * KINH TRƯỚC KHI XÉT MÌNH Lạy Chúa là sự sáng linh hồn con. Xin soi sáng cho con / được biết mọi tội con đã phạm / trong ngày hôm nay hoặc trong những ngày qua hoặc lo, hoặc nói, hoặc làm điều gì lỗi nghĩa cùng Chúa, vì công nghiệp Đức Chúa Giêsu, ban ơn cho con được ăn năn ghét tội, cùng dốc lòng chừa thật. Amen. 11* KINH ĂN NĂN TỘI Lạy Chúa con, Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng, Chúa đã dựng nên con / và cho Con Chúa ra đời, chịu nạn chịu chết vì con, mà con đã cả lòng phản nghịch lỗi nghĩa cùng Chúa, thì con lo buồn đau đớn, cùng chê ghét mọi tội con trên hết mọi sự. Con dốc lòng chừa cải, và nhờ ơn Chúa / thì con sẽ lánh xa dịp tội, cùng làm việc đền tội cho xứng. Amen. 12* KINH THÚ NHẬN Tôi thú nhận cùng Thiên Chúa toàn năng / và cùng anh chị em Tôi đã phạm tội nhiều / trong tư tưởng, lời nói, việc làm, và những điều thiếu sót. Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng đấm ngực. Vì vậy tôi xin Đức Bà Maria trọn đời đồng trinh, các thiên thần, các thánh và anh chị em / khẩn cầu cho tôi trước tòa Thiên Chúa, Chúa chúng ta. Amen. 13*KINH TIN KÍNH Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất muôn vật / hữu hình và vô tin kính một Chúa Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời. Người là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, ánh sáng bởi ánh sáng, Thiên Chúa thật bởi Thiên Chúa thật. Được sinh ra mà không phải tạo thành, đồng bản tính với Đức Chúa Cha, nhờ Người mà muôn vật được tạo loài người chúng tôi, và để cứu rỗi chúng tôi, Người đã từ trời xuống thế. cúi mình Bởi phép Đức Chúa Thánh Thần, Người đã nhập thể trong lòng Trinh Nữ Maria / và đã làm người. Người chịu đóng đinh vào thập giá vì chúng tôi, chịu khổ hình và mai táng thời Phong-xi-ô Phi-la-tô. Ngày thứ ba / Người sống lại như lời Thánh Kinh. Người lên trời / ngự bên hữu Đức Chúa Cha. Và Người sẽ trở lại trong vinh quang / để phán xét kẻ sống và kẻ chết. Nước Người sẽ không bao giờ cùng. Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa, và là Đấng ban sự sống. Người bởi Đức Chúa Cha, và Đức Chúa Con mà ra. Người cùng được phụng thờ, và tôn vinh với Đức Chúa Cha, và Đức Chúa Con. Người đã dùng các tiên tri mà phán dạy. Tôi tin có Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo, và tông truyền. Tôi tuyên xưng có một phép Rửa để tha tội. Tôi trông đợi kẻ chết sống lại, và sự sống đời sau. Amen. 14* KINH CÁM ƠN Con cám ơn Đức Chúa Trời, là Chúa lòng lành vô cùng, chẳng bỏ con, chẳng để con không đời đời, mà lại sinh ra con, cho con được làm người, cùng hằng gìn giữ con, hằng che chở con; lại cho Ngôi Hai xuống thế làm người / chuộc tội chịu chết trên cây thánh giá vì con, lại cho con được đạo thánh Đức Chúa Trời, cùng chịu nhiều ơn nhiều phép Hội Thánh nữa, và đã cho phần xác con ngày hôm nay / được mọi sự lành, lại cứu lấy con / kẻo phải chết tươi ăn năn tội chẳng kịp. Vậy các thánh ở trên Nước thiên đàng / cám ơn Đức Chúa Trời thế nào, thì con cũng hiệp cùng các thánh / mà dâng cho Chúa con / cùng cám ơn như vậy. Amen. 15* KINH TRÔNG CẬY Chúng con trông cậy Rất Thánh Đức Mẹ Chúa Trời, xin chớ chê chớ bỏ lời chúng con nguyện / trong cơn gian nan thiếu thốn / Đức Nữ Đồng Trinh hiển vinh sáng láng / hằng chữa chúng con cho khỏi sự dữ. Amen. - Lạy Rất Thánh Trái Tim Đức Chúa GiêsuThương xót chúng con. - Lạy Trái Tim cực thanh cực tịnh Rất Thánh Đức Bà Maria. - Cầu cho chúng con. - Lạy ông thánh Giuse là bạn thanh sạch Đức Bà Maria trọn đời đồng trinh - Cầu cho chúng con. 16* CHUỖI MÂN MÔI NĂM SỰ VUI Thứ Nhất thì ngắm Thiên thần truyền tin cho Đức Bà chịu thai – Ta hãy xin cho được ở khiêm nhường. Thứ Hai thì ngắm Đức Bà đi viếng bà thánh Isave - Ta hãy xin cho được lòng yêu người. Thứ ba thì ngắm Đức Bà sinh Đức Chúa Giêsu nơi hang đá - Ta hãy xin cho được lòng khó khăn Thứ bốn thì ngắm Đức Bà dâng Đức Chúa Giêsu trong đền thánh-Ta hãy xin cho được vâng lời chịu lụy. Thứ năm thì ngắm Đức Bà tìm được Đức Chúa Giêsu trong đền thánh, Ta hãy xin cho được giữ nghĩa cùng Chúa luôn. NĂM SỰ THƯƠNG Thứ Nhất thì ngám Đức Chúa Giêsu lo buồn đổ mồ hôi máu, Ta hãy xin cho được ăn năn tội nên. Thứ Hai thì ngắm Đức Chúa Giêsu chịu đánh đòn - Ta hãy xin cho được hãm mình chịu khó bằng lòng. Thứ Ba thì ngắm Đức Chúa Giêsu chịu đội mạo gai, Ta hãy xin cho được chịu mọi sự sỉ nhục bằng lòng. Thứ Bốn thì ngắm Đức Chúa Giêsu vác cây thánh giá, Ta hãy xin cho được vác thánh giá theo chân Chúa. Thứ năm thì ngắm Đức Chúa Giêsu chịu chết trên cây thánh giá - Ta hãy xin cho được đóng đinh tính xác thịt vào thánh giá Chúa. NĂM SỰ SÁNG Thứ Nhất thì ngắm Đức Chúa Giêsu chịu phép rửa tại sông Giođan. Ta hãy xin cho được sống xứng đáng là con cái Chúa . Thứ Hai thì ngắm Đức Chúa Giêsu dự tiệc cưới Ca-na. ta hãy xin cho được vững tin vào quyền năng của Ngài. Thứ Ba thì ngắm Đức Chúa Giêsu rao giảng Nước Trời và kêu gọi sám hối. Ta hãy xin cho được hoán cải và đón nhận Tin Mừng . Thứ bốn thì ngắm Đức Chúa Giêsu biến hình trên núi. Ta hãy xin cho được lắng nghe và thực hành Lời Chúa . Thứ năm thì ngắm Đức Chúa Giêsu lập bí tích Thánh Thể. Ta hãy xin cho được năng kết hiệp cùng Chúa Giêsu Thánh Thể . NĂM SỰ MỪNG Thứ nhất thì ngắmĐức ChúaGiêsu sống lại,Ta hãy xin cho được sống lại thật về phần linh hồn. Thứ Hai thì ngắm Đức Chúa Giêsu lên trời - Ta hãy xin cho được ái mộ những sự trên trời. Thứ Ba thì ngắm Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống - Ta hãy xin cho được lòng đầy dẫy mọi ơn Đức Chúa Thánh Thần. Thứ Bốn thì ngăm Đức Chúa Trời cho Đức Bà lên hãy xin ơn chết lành trong tay Đức Mẹ. Thứ Năm thì ngắm Đức Chúa Trời thưởng Đức Mẹ trên trời - Ta hãy xin Đức Mẹ phù hộ cho ta được thưởng cùng Đức Mẹ trên Nước thiên đàng. 17* CẦU CHO CÁC LINH HỒN Lạy Chúa Giêsu, xin tha tội lỗi chúng con, giữ gìn chúng con khỏi sa hỏa ngục, xin đem các linh hồn lên thiên đàng, nhất là những linh hồn cần đến lòng Chúa thương xót hơn. hoặc Chúng con cậy vì danh Chúa nhân từ / cho linh hồn ... được lên chốn nghỉ ngơi, hằng xem thấy mặt Đức Chúa Trời sáng láng vui vẻ vô cùng. Amen. 18* KINH MƯỜI ĐIỀU RĂN Đạo Đức Chúa Trời có Mười điều răn Thứ nhất Thờ phượng một Đức Chúa Trời và kính mến người trên hết mọi sự. Thứ hai Chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ. Thứ ba Giữ ngày Chúa Nhật. Thứ bốn Thảo kính cha mẹ. Thứ năm Chớ giết người. Thứ sáu Chớ làm sự dâm dục. Thứ bẩy Chớ lấy của người. Thứ tám Chớ làm chứng dối. Thứ chín Chớ muốn vợ chồng người. Thứ mười Chớ tham của người. Mười điều răn ấy tóm về hai này mà chớ Trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy. Amen. 19* KINH SÁU ĐIỀU RĂN HỘI THÁNH Hội Thánh có sáu điều răn Thứ nhất Xem lễ ngày Chúa Nhật cùng các ngày lễ buộc. Thứ hai Chớ làm việc xác ngày Chúa Nhật cùng các ngày lễ buộc. Thứ ba Xưng tội trong một năm ít là một lần. Thứ bốn Chịu Mình Thánh Đức Chúa Giêsu trong mùa Phục Sinh. Thứ năm Giữ chay những ngày Hội Thánh buộc. Thứ sáu Kiêng thịt ngày Thứ Sáu cùng những ngày khác Hội Thánh dạy. 20* KINH BẢY BÍ TÍCH Đạo Đức Chúa Trời có 7 phép Bí tích. Thứ nhất Là phép Rửa tội. Thứ hai Là phép Thêm Sức. Thứ ba Là phép Mình Thánh Chúa. Thứ bốn Là phép Giải tội. Thứ năm Là phép Xức dầu thánh. Thứ sáu Là phép Truyền chức thánh. Thứ bảy Là phép Hôn phối. Mục Lục Giáo Lý Dự Tòng Trở Về Trang Nhà Home Online Nghe nhạc Nhà Thờ Video Huynh Trưởng Giêsu Giáo lý hôn nhân Tâm lý tình yêu Cửa hàng Đăng Nhập Đăng Ký Kinh Sáng1. Dấu Thánh Giá Dấu Đơn2. Kinh Vì Dấu Dấu KépLạy Chúa chúng con, vì dấu + Thánh giá, xin chữa + chúng con, cho khỏi + kẻ thù. Nhân danh Cha + và Con và Thánh Thần. đang xem Các kinh cần thuộc3. Kinh Truyền TinX. Đức Chúa Trời sai thánh thiên thần truyền tin cho rất thánh Đức Bà Và rất thánh Đức Bà chịu thai bởi phép Đức Chúa mừng Maria... Thánh Maria...X. Này tôi là tôi tá Đức Chúa Trời,Đ. Tôi xin vâng như lời thánh thiên thần mừng Maria... Thánh Maria...X. Chốc ấy Ngôi Thứ Hai xuống thế làm Và ở cùng chúng mừng Maria... Thánh Maria...X. Lạy rất thánh Đức Mẹ Chúa Trời xin cầu cho chúng Đáng chịu lấy những sự Chúa Kitô đã Nguyện Lạy Chúa, chúng con xin Chúa ban ơn xuống trong linh hồn chúng con là kẻ đã nhờ lời thánh thiên thần truyền, mà biết thật Chúa Kitô là Con Chúa đã xuống thế làm người, thì xin vì công ơn Chúa chịu nạn chịu chết trên cây Thánh giá cho chúng con ngày sau khi sống lại, được đến nơi vinh hiển, cũng vì công nghiệp Chúa Kitô là Chúa chúng con. Kinh Nữ Vương Thiên ĐàngXướng Lạy Nữ Vương Thiên Đàng hãy vui mừng – AlleluiaĐáp Vì đấng Mẹ đã đáng cưu mang trong lòng – AlleluiaXướng Người đã sống lại thật như lời đã phán hứa – AlleluiaĐáp Xin cầu cùng Chúa cho chúng con – AlleluiaXướng Lạy Nữ Đồng Trinh Maria hãy hỉ hoan khoái lạc – AlleluiaĐáp Vì Chúa đã sống lại thật – Alleluia5. Kinh Đức Chúa Thánh ThầnChúng con lạy ơn Đức Chúa Thánh Thần thiêng liêng sáng láng vô cùng. Chúng con xin Đức Chúa Thánh Thần xuống, đầy lòng chúng con là kẻ tin cậy Đức Chúa Trời, và đốt lửa kính mến Đức Chúa Trời trong lòng chúng con; chúng con xin Đức Chúa Trời cho Đức Chúa Thánh Thần Sửa lại mọi sự trong ngoài chúng con cầu cùng Đức Chúa Trời xưa đã cho Đức Chúa Thánh Thần xuống soi lòng dậy dỗ các Thánh Tông Đồ, thì rầy chúng con cũng xin Đức Chúa Trời cho Đức Chúa Thánh Thần lại xuống, yên ủi dạy dỗ chúng con làm những việc lành, vì công nghiệp vô cùng Đức Chúa Giêsu Kitô là Chúa chúng con. Kinh Sấp MìnhLạy Chúa con, con sấp mình xuống trước mặt Chúa con. Con tin thật Chúa ở khắp mọi nơi, thông biết mọi sự, hằng xem thấy con, hằng nghe lời con cầu nguyện. Xin Chúa rất nhân từ hãy đoái xem sự nghèo ngặt con và nhận lời con Chúa xin hãy mở miệng lưỡi con ra, thì con sẽ cao rao những lời ngợi khen Kinh Đội ƠnLạy Chúa con, con đội ơn Chúa vì những ơn lành Chúa đã ban cho con xưa nay, nhất là đã dựng nên con và cho Con Chúa chịu chết mà cứu chuộc con, lại chọn lấy con làm con Hội Thánh nữa. Kinh TinLạy Chúa con, con tin thật có một Đức Chúa Trời là Đấng thưởng phạt vô cùng. Con lại tin thật Đức Chúa Trời có Ba Ngôi, mà Ngôi Thứ Hai đã xuống thế làm người chịu nạn chịu chết mà chuộc tội thiên hạ. Bấy nhiêu điều ấy cùng các điều Hội Thánh dậy thì con tin vững vàng vì Chúa là Đấng thông minh và chân thật vô cùng đã phán truyền cho Hội Thánh. Kinh CậyLạy Chúa con, con trông cậy vững vàng vì công nghiệp Đức Chúa Giêsu thì Chúa sẽ ban ơn cho con giữ đạo nên ở đời này, cho ngày sau được lên thiên đàng xem thấy mặt Đức Chúa Trời hưởng phúc đời đời, vì Chúa là đấng phép tắc và lòng lành vô cùng đã phán hứa sự ấy chẳng có lẽ nào sai được. Kinh Kính MếnLạy Chúa con, con kính mến Chúa hết lòng hết sức trên hết mọi sự, vì Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng, lại vì Chúa thì con thương yêu người ta như mình con vậy. Kinh Lạy ChaLạy Cha chúng con ở trên trời, chúng con nguyện Danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể hiện dưới đất cũng như trên Cha cho chúng con hôm nay lương thực hằng ngày, và tha nợ chúng con, như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con. Xin chớ để chúng con sa chước cám dỗ, nhưng cứu chúng con cho khỏi sự dữ. Kinh Kính MừngKính mừng Ma-ri-a đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ, và Giê-su con lòng Bà gồm phúc Ma-ri-a Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử. Kinh Sáng DanhSáng danh Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần. Như đã có trước vô cùng, và bây giờ, và hằng có, và đời đời chẳng cùng. Kinh Tin KínhTôi tin kính Đức Chúa Trời là Cha phép tắc vô cùng dựng nên trời tin kính Đức Chúa Giêsu Kitô là Con Một Đức Chúa Cha cùng là Chúa chúng tôi; bởi phép Đức Chúa Thánh Thần mà Người xuống thai, sinh bởi Bà Maria đồng trinh chịu nạn đời quan Phong-xi-ô Philatô, chịu đóng đanh trên cây Thánh-giá, chết và táng xác; xuống ngục tổ tông, ngày thứ ba bởi trong kẻ chết mà sống lại; lên trời ngự bên hữu Đức Chúa Cha phép tắc vô cùng; ngày sau bởi trời lại xuống phán xét kẻ sống và kẻ tin kính Đức Chúa Thánh Thần. Tôi tin có Hội Thánh hằng có ở khắp thế này, các thánh thông công. Tôi tin phép tha tội. Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại. Tôi tin hằng sống vậy. Kinh Thú NhậnTôi thú nhận cùng Thiên Chúa toàn năng, và cùng anh chị em, tôi đã phạm tội nhiều trong tư tưởng, lời nói, việc làm, và những điều thiếu sót. Lỗi tại tôi, lỗi tại tôi, lỗi tại tôi mọi đàng. Vì vậy tôi xin Đức Bà Ma-ri-a trọn đời đồng trinh, các Thiên Thần, các Thánh, và anh chị em khẩn cầu cho tôi trước tòa Thiên Chúa, Chúa chúng Kinh Ăn Năn TộiLạy Chúa con, Chúa là Đấng trọn tốt trọn lành vô cùng. Chúa đã dựng nên con, và cho Con Chúa ra đời chịu nạn chịu chết vì con, mà con đã cả lòng phản nghịch lỗi nghĩa cùng Chúa, thì con lo buồn đau đớn, cùng chê ghét mọi tội con trên hết mọi sự; con dốc lòng chừa cải, và nhờ ơn Chúa thì con sẽ lánh xa dịp tội cùng làm việc đền tội cho xứng. Kinh Sáng SoiCúi xin Chúa sáng soi cho chúng con được biết việc phải làm, cùng khi làm xin Chúa giúp đỡ cho mỗi kinh mỗi việc chúng con, từ khởi sự cho đến hoàn thành đều nhờ bởi ơn Chúa. Kinh Lạy Nữ VươngLạy Nữ Vương Mẹ nhân lành làm cho chúng con được sống, được vui, được cậy. Thân lạy Mẹ, chúng con, con cháu E-và ở chốn khách đầy, kêu đến cùng Bà; Chúng con ở nơi khóc lóc than thở kêu khấn Bà thương. Hỡi ôi! Bà là Chúa bầu chúng con, xin ghé mắt thương xem chúng con. Đến sau khỏi đày, xin cho chúng con được thấy Đức Chúa Giêsu, Con lòng Bà gồm phúc khoan thay! nhân thay! dịu thay! Thánh Maria trọn đời đồng trinh. Kinh Cám ƠnCon cám ơn Đức Chúa Trời là Chúa lòng lành vô cùng chẳng bỏ con, chẳng để con không đời đời, mà lại sinh ra con, cho con được làm người, cùng hằng gìn giữ con, hằng che chở con, lại cho Ngôi Hai xuống thế làm người, chuộc tội chịu chết trên cây Thánh Giá vì con, lại cho con được đạo thánh Đức Chúa Trời, cùng chịu nhiều ơn nhiều phép Hội Thánh nữa, và đã cho phần xác con đêm nay tối thì đọc ngày hôm nay được mọi sự lành; lại cứu lấy con kẻo phải chết tươi ăn năn tội chẳng kịp. Vậy các Thánh ở trên nước thiên đàng cám ơn Đức Chúa Trời thế nào, thì con cũng hợp cùng các Thánh mà dâng cho Chúa con cùng cám ơn như vậy. Kinh Trông CậyChúng con trông cậy Rất Thánh Đức Mẹ Chúa Trời, xin chớ chê, chớ bỏ lời chúng con nguyện trong cơn gian nan thiếu thốn, Đức Nữ Đồng Trinh hiển vinh sáng láng. Hằng chữa chúng con cho khỏi sự dữ. Chiều Tối01. Kinh Trước Khi Xét MìnhLạy Chúa là sự sáng linh hồn con, xin soi sáng cho con được biết mọi tội con đã phạm trong ngày hôm nay, hoặc lo, hoặc nói, hoặc làm điều gì lỗi nghĩa cùng Chúa. Con lại xin Chúa vì công nghiệp Đức Chúa Giêsu ban ơn cho con được ăn năn ghét tội cùng dốc lòng chừa thật. Kinh Hãy NhớLạy Thánh Nữ Đồng Trinh Maria, là Mẹ rất nhân từ, xin hãy nhớ xưa nay chưa từng nghe có người nào chạy đến cùng ức Mẹ, xin bầu chữa cứu giúp mà ức Mẹ từ bỏ chẳng nhận lời. Nhân vì sự ấy, con lấy lòng trông cậy than van chạy đến sấp mình xuống dưới chân ức Mẹ là Nữ Đồng Trinh trên hết các kẻ đồng trinh, xin ức Mẹ đoái đến con là kẻ tội lỗi. Lạy Mẹ là Mẹ Chúa Cứu Thế, xin chớ bỏ lời con kêu xin, một dủ lòng thương mà nhận lời con cùng. Kinh Phó DângLạy Chúa con, con xin phó dâng linh hồn và xác con ở tay Chúa con. Chúa đã phù hộ con ban ngày, thì xin Chúa cũng gìn giữ con ban đêm, kẻo sa phạm tội gì mất lòng Chúa hay là chết tươi ăn năn tội chẳng kịp. Chớ gì sống chết con được giữ một lòng kính mến Chúa luôn. Kinh Cám Ơn05. Kinh Trông CậyChúng con trông cậy rất thánh Đức Mẹ Chúa Trời, xin chớ chê chớ bỏ lời con nguyện, trong cơn gian nan thiếu thốn, Đức Nữ Đồng Trinh hiển vinh sáng láng hằng chữa chúng con cho khỏi mọi sự dữ, Các Lời Nguyện Tắt+ Lạy Trái Tim Cực Thánh Chúa Giêsu.– Xin thương xót chúng con.+ Lạy Trái Tim cực thanh cực tịnh Rất Thánh Đức Bà Maria.– Xin cầu cho chúng con.+ Lạy ông thánh Giuse là bạn thanh sạch Đức Bà Maria trọn đời đồng trinh– Xin cầu cho chúng conKinh Ngày Chúa Nhật01. Kinh Nghĩa Đức TinNgày Chúa Nhật hôm nay chúng con hợp nhau kính lạy thờ phượng Chúa, khong khen cảm tạ ơn Chúa về mọi ơn lành Chúa đã ban cho chúng con, và phạt tạ Chúa vì những tội lỗi chúng con đã phạm mất lòng Chúa thì chúng con dám xin Chúa hãy khứng ban những ơn cần kíp cho chúng con được rỗi linh chúng con cả lòng tin vững vàng mọi điều đạo thánh Chúa dạy; nhất là những điều cần kíp này là có một Đức Chúa Trời phép tắc vô cùng dựng nên trời đất; mà Người có Ba Ngôi. Ngôi Thứ Nhất là Cha, Ngôi Thứ Hai là Con, Ngôi Thứ Ba là Thánh Thần; Ba Ngôi cũng một tính một phép cho nên Ba Ngôi cũng một Chúa mà thôi. Chúng con tin Ngôi Thứ Hai ra đời làm người sinh bởi Bà Maria đồng trinh, đặt tên là Giêsu; ở thế gian ba mươi ba năm, đoạn chịu chết trên cây thánh giá mà chuộc tội cho thiên hạ; đến ngày thứ ba Người sống lại; khỏi bốn mươi ngày lên trời đủ mười ngày lại cho Đức Chúa Thánh Thần xuống trên các Thánh Tông Đồ và Hội Thánh mới lập; ai chẳng thông công cùng Hội Thánh ấy thì chẳng được rỗi linh hồn; mà linh hồn là giống thiêng liêng chẳng hề chết được; và đến ngày tận thế xác loài người ta sẽ sống lại mà chịu phán xét, kẻ lành lên thiên đàng hưởng phúc đời đời; kẻ dữ sa hỏa ngục chịu phạt vô chúng con tin các sự ấy mà thôi thì chưa đủ cho được lên thiên đàng; song phải giữ Mười Điều Răn Đức Chúa Trời cùng Sáu Luật Điều Hội Thánh, và làm những việc lành phúc đức. Nhân vì sự ấy chúng con hằng phải sợ hãi và trốn tránh các tội lỗi, nhất là bảy mối tội đầu, là căn nguyên mọi tội lỗi chúng con phải ân cần lo lắng mà năng chịu các phép Bí Tích Đức Chúa Giêsu đã truyền, là những phương linh nghiệm cho chúng con được nên thánh. Có bảy phép Bí Tích mà thôi; song phép Rửa Tội, phép Mình Thánh Chúa cùng phép Giải Tội là ba phép cần kíp hơn cho chúng con được vậy chúng con hằng phải ra sức lo lắng thể nào mà chịu các phép trọng ấy cho nên, cùng tin thật vững vàng mà giữ cẩn thận các điều trước này, thì mới được hưởng phúc thanh nhàn đời đời kiếp kiếp. Mười Điều Rănạo ức Chúa Trời có Mười điều rănThứ nhất Thờ phượng một ức Chúa Trời và kính mến Người trên hết mọi hai Chớ kêu tên ức Chúa Trời vô ba Giữ ngày Chúa bốn Thảo kính cha năm Chớ giết sáu Chớ làm sự dâm bảy Chớ lấy của tám Chớ làm chứng chín Chớ muốn vợ chồng mười Chớ tham của điều răn ấy tóm về hai này mà chớ Trước kính mến một ức Chúa Trời trên hết mọi sự; sau lại yêu người như mình ta vậy. Sáu Điều RănHội thánh có sáu điều rănThứ nhất Xem lễ ngày Chúa nhật cùng các ngày Lễ hai Chớ làm việc xác ngày Chúa nhật cùng các ngày Lễ ba Xưng tội trong một năm ít là một năm Giữ chay những ngày Hội thánh sáu Kiêng thịt những ngày Hội thánh Bảy Phép Bí TíchĐạo Đức Chúa Trời có bảy phép Bí TíchThứ nhất là phép Rửa hai là phép Thêm ba là phép Mình Thánh bốn là phép Giải năm là phép Xức dầu sáu là phép Truyền chức bảy là phép Hôn Thương Người Có 14 MốiThương người có mười bốn mốiThương xác bảy mốiThứ nhất Cho kẻ đói hai Cho kẻ khát ba Cho kẻ rách rưới ăn bốn Viếng kẻ liệt cùng kẻ tù năm Cho khách đỗ sáu Chuộc kẻ làm bảy Chôn xác kẻ linh hồn bảy mốiThứ nhất Lấy lời lành mà khuyên hai Mở dạy kẻ mê ba Yên ủi kẻ âu lo. Thứ bốn Răn bảo kẻ có năm Tha kẻ dể sáu Nhịn kẻ mất lòng bảy Cầu cho kẻ sống và kẻ Cải Tội Bảy MốiCải tội bảy mối có bảy đứcThứ nhất khiêm nhường, chớ kiêu hai rộng rãi, chớ hà ba giữ mình sạch sẽ, chớ mê dâm bốn hay nhịn, chớ hờn năm kiêng bớt chớ mê ăn sáu yêu người chớ ghen bảy siêng năng việc Đức Chúa Trời, chớ làm Phúc Thật 8 MốiPhúc thật Tám MốiThứ nhất Ai có lòng khó khăn ấy là phúc thật, vì chưng Nước ức Chúa Trời là của mình hai Ai hiền lành ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được đất ức Chúa Trời làm của mình ba Ai khóc lóc ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được yên ủi bốn Ai khao khát nhân đức trọn lành ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được no đủ năm Ai thương xót người ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được thương xót sáu Ai giữ lòng sạch sẽ ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được thấy mặt ức Chúa Trời bảy Ai làm cho người hòa thuận ấy là phúc thật, vì chưng sẽ được gọi là con ức Chúa Trời tám Ai chịu khốn nạn vì ạo ngay ấy là phúc thật, vì chưng Nước ức Chúa Trời là của mình Ngắm Các Phép Lần Hạt - 5 Sự Vui Thứ nhất thì ngắm Thiên Thần truyền tin cho Đức Bà chịu thai. Ta hãy xin cho được ở khiêm nhường. Thứ hai thì ngắm Đức Bà đi viếng Bà thánh Isave. Ta hãy xin cho được lòng yêu người. Thứ ba thì ngắm Đức Bà sinh Đức Chúa Giêsu nơi hang đá. Ta hãy xin cho được lòng khó khăn. Thứ bốn thì ngắm Đức Bà dâng Đức Chúa Giêsu trong đền thánh. Ta hãy xin cho được vâng lời chịu lụy. Thứ năm thì ngắm Đức Bà tìm được Đức Chúa Giêsu trong đền thánh. Ta hãy xin cho được giữ nghĩa cùng Chúa 5 Sự SángThứ nhất thì ngắm Đức Chúa Giêsu chịu phép Rửa tại sông Gio-đan. Ta hãy xin cho được sống đẹp lòng Đức Chúa hai thì ngắm Đức Chúa Giêsu làm phép lạ hóa nước thành rượu tại Cana. Ta hãy xin cho được vững tin vào quyền năng của Đức Chúa ba thì ngắm Đức Chúa Giêsu rao giảng Nước Trời và ơn thống hối. Ta hãy xin cho được ơn cải sửa tâm tư thì ngắm Đức Chúa Giêsu biến hình trên núi Tabor. Ta hãy xin cho được luôn lắng nghe Lời năm thì ngắm Đức Chúa Giêsu lập phép Thánh Thể. Ta hãy xin cho được siêng năng rước Mình Máu Thánh Người. - 5 Sự Thương Thứ nhất thì ngắm Đức Chúa Giêsu lo buồn đổ mồ hôi máu. Ta hãy xin cho được ăn năn tội hai thì ngắm Đức Chúa Giêsu chịu đánh đòn. Ta hãy xin cho được hãm mình chịu khó bằng lòng. Thứ ba thì ngắm Đức Chúa Giêsu chịu đội mão gai. Ta hãy xin cho được chịu mọi sự sỉ nhục bằng bốn thì ngắm Đức Chúa Giêsu vác cây Thánh giá. Ta hãy xin được vác Thánh giá theo chân năm thì ngắm Đức Chúa Giêsu chịu chết trên cây thánh giá. Ta hãy xin đóng đinh tính xác thịt vào thánh giá Chúa. - 5 Năm sự MừngThứ nhất thì ngắm Đức Chúa Giêsu sống lại. Ta hãy xin cho được sống lại thật về phần linh hai thì ngắm Đức Chúa Giêsu lên trời. Ta hãy xin cho được ái mộ những sự trên ba thì ngắm Đức Chúa Thánh Thần hiện xuống. Ta hãy xin cho được lòng đầy dẫy mọi ơn Đức Chúa Thánh năm thì ngắm Đức Chúa Trời thưởng Đức Mẹ trên trời. Ta hãy xin Đức Mẹ phù hộ cho ta được thưởng cùng Đức Mẹ trên nước Thiên đàng. 15 Câu Kinh Thánh Cần Ghi Nhớ Cho Mỗi Cơ-Đốc Nhân Tại sao chúng ta nên ghi nhớ những câu Kinh Thánh? Nhiều người trong chúng ta ắt hẳn đã từng thắc mắc những câu đại loại như Mục đích của việc ghi nhớ là gì? Tại sao tôi nên dành thời gian và công sức để học thuộc câu gốc? Chẳng phải tôi nên dành thời gian đó để nghiên cứu Kinh Thánh kĩ hơn, hoặc là cầu nguyện sao? Tôi có thể mở Kinh Thánh ra và đọc lời Chúa mà, vậy tôi nên nhớ làm gì? Nếu tôi có trí nhớ kém thì tôi có nên cân nhắc về việc này không? Tôi đã từng hoài nghi về tất cả những vấn đề kể trên và đã bị cáo trách nặng nề bởi lời hằng sống của Chúa. Dưới đây là 3 lý do quan trọng nhất để chúng ta ghi nhớ lời Chúa Để cáo trách tội lỗi của chúng ta “Tôi đã giấu lời Chúa trong lòng tôi, để tôi không phạm tội cùng Chúa.” Thi thiên11911 “Nhược bằng chúng ta nói mình chẳng từng phạm tội, ấy là chúng ta cho Ngài là kẻ nói dối, lời Ngài không ở trong chúng ta.” I Giăng110 Để dạy chúng ta biết kính sợ Chúa “Vả, nầy là điều răn, luật lệ và mạng lịnh mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đã phán dặn ta dạy lại cho, để các ngươi làm theo nó trong xứ mà các ngươi đã nhận lấy; hầu cho ngươi kính sợ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, trọn đời, ngươi và con cháu ngươi vâng giữ các luật lệ và điều răn của Ngài mà ta truyền cho ngươi, để ngươi được sống lâu ngày.” Phục truyền luật lệ ký61-2 Để đứng vững trước kẻ thù địch “Vả lại, anh em phải làm mạnh dạn trong Chúa, nhờ sức toàn năng của Ngài. Hãy mang lấy mọi khí giới của Đức Chúa Trời, để được đứng vững mà địch cùng mưu kế của ma quỉ… Cũng hãy lấy sự cứu chuộc làm mão trụ, và cầm gươm của Đức Thánh Linh, là lời Đức Chúa Trời. Hãy nhờ Đức Thánh Linh, thường thường làm đủ mọi thứ cầu nguyện và nài xin. Hãy dùng sự bền đỗ trọn vẹn mà tỉnh thức về điều đó, và cầu nguyện cho hết thảy các thánh đồ.” Ê-phê-sô610-11; 17-18 Ba bí quyết để ghi nhớ Cho dù bạn đã ghi nhớ lời Chúa suốt cuộc đời mình hay chỉ vừa mới bắt đầu, hãy cân nhắc một trong những bí quyết sau đây Đọc và lặp lại Chọn 1 phân đoạn Kinh Thánh nhất định, và đọc nó 10 lần mỗi ngày cho đến khi bạn nhớ được tất cả. Khi bạn đọc đi đọc lại nhiều lần, bạn thường sẽ có xu hướng nhớ lâu hơn. Bạn càng thường xuyên đọc Kinh Thánh, thì nó sẽ càng hằn sâu trong tâm trí của bạn. Đừng đọc thầm trong trí, nhưng đọc to lên để tai bạn cũng nghe. Nếu được, vừa đọc to vừa chép câu KT đang học bằng viết và giấy, và cũng cố gắng nhớ địa chỉ của câu KT đó. 2. Khiến bạn có trách nhiệm hơn Đừng học thuộc hay ghi nhớ một mình. Hãy kêu gọi bạn bè tham gia cùng. Sau đó, đọc lớn tiếng câu kinh thánh cần nhớ. Bạn thậm chí còn có thể “kiểm tra” người bạn của mình dựa vào trí nhớ của bản thân, thay vì lập tức nhìn vào Kinh Thánh. Vài năm trước, nhóm của tôi đã cùng ghi nhớ Thiên thiên 145 cùng nhau, nó giúp chúng ta có động lực hơn và có thể thấy được những kết quả tốt lành. 3. Cầu nguyện Thông thường, khó khăn lớn nhất của tôi trong việc ghi nhớ là thiếu đi tấm lòng khát khao và sự lười biếng. Tôi đã không bắt lấy cơ hội để giấu lời Chúa trong lòng tôi, và giữ các điều răn cùng lời hứa của Ngài. Sẽ nhanh hơn và dễ dàng hơn biết bao nhiêu khi ta không phải tốn thêm thời gian và công sức trong việc đọc Kinh Thánh. Còn bạn thì sao? Chúng ta nên cầu nguyện cho tấm lòng của mình để có sự ham thích học hỏi lời của Chúa, và khả năng để có thể làm chủ bản thân. Lạy Chúa, xin hãy giúp chúng con quý trọng những thứ Ngài quý trọng, và yêu những thứ Ngài yêu. 15 câu gốc đáng nhớ cho Cơ đốc nhân Dưới đây là danh sách gợi ý cho 15 câu kinh thánh cần ghi nhớ. Chọn một đoạn nhất định, sau đó hãy đọc lại trước khi đến đoạn kế tiếp. 2 Cô rinh tô 521 – Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng đó mà được trở nên sự công bình của Đức Chúa Trời. Ê-sai 535 – Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương, bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh. 1 Giăng 19 – Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác. Công vụ các sứ đồ 412 – Chẳng có sự cứu rỗi trong Đấng nào khác, vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu. 1 Tê-sa-lô-ni-ca 516-18 – Hãy vui mừng mãi mãi, cầu nguyện không thôi, phàm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa; vì ý muốn của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Jesus Christ đối với anh em là như vậy. Phục truyền luật lệ ký 83 – Vậy, Ngài có hạ ngươi xuống, làm cho ngươi bị đói, đoạn cho ăn ma-na mà ngươi và tổ phụ ngươi chưa hề biết, để khiến ngươi biết rằng loài người sống chẳng phải nhờ bánh mà thôi, nhưng loài người sống nhờ mọi lời bởi miệng Đức Giê-hô-va mà ra. Thi thiên 7325-26 – Ở trên trời tôi có ai trừ ra Chúa? Còn dưới đất tôi chẳng ước ao người nào khác hơn Chúa. Thịt và lòng tôi bị tiêu hao; Nhưng Đức Chúa Trời là sức lực của lòng tôi, và là phần tôi đến đời đời. Mác 835-36 – Vì ai muốn cứu sự sống mình thì sẽ mất; còn ai vì cớ ta và đạo Tin lành mà mất sự sống, thì sẽ cứu. Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì? Rô-ma 831-32 – Đã vậy thì chúng ta sẽ nói làm sao? Nếu Đức Chúa Trời vừa giúp chúng ta, thì còn ai nghịch với chúng ta? Ngài đã không tiếc chính Con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho, thì Ngài há chẳng cũng sẽ ban mọi sự luôn với Con ấy cho chúng ta sao? I Phi-e-rơ 113 – Vậy, anh em hãy bền chí như thể thắt lưng, hãy tiết độ, lấy sự trông cậy trọn vẹn đợi chờ ơn sẽ ban cho mình trong khi Đức Chúa Jesus Christ hiện ra. Ê-xê-chi-ên 3626 – Ta sẽ ban lòng mới cho các ngươi, và đặt thần mới trong các ngươi. Ta sẽ cất lòng bằng đá khỏi thịt các ngươi, và ban cho các ngươi lòng bằng thịt. I Tê-sa-lô-ni-ca 59-10 – Vì Đức Chúa Trời chẳng định sẵn cho chúng ta bị cơn thạnh nộ, nhưng cho được sự giải cứu bởi Đức Chúa Jesus Christ chúng ta, là Đấng đã chết vì chúng ta, hầu cho chúng ta hoặc thức hoặc ngủ, đều được đồng sống với Ngài. Hê-bơ-rơ 415-16 – Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội. Vậy, chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng. Giăng 11-2 – Ban đầu có Ngôi Lời, Ngôi Lời ở cùng Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời. Ban đầu Ngài ở cùng Đức Chúa Trời. Thi thiên 274 – Tôi đã xin Đức Giê-hô-va một điều, và sẽ tìm kiếm điều ấy! Ấy là tôi muốn trọn đời được ở trong nhà Đức Giê-hô-va, Để nhìn xem sự tốt đẹp của Đức Giê-hô-va, Và cầu hỏi trong đền của Ngài. Dịch Jéssie Nguyen Nguồn Unlocking The Bible / OneWayMedia

18 kinh cần thuộc