Trừ các trường hợp Nô vô chính diệu đắc Tam không thì tốt, bạn bè tôi tớ đắc lực. Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu tốt đẹp, được bạn bè giúp đỡ, bạn bè khá giả, người làm có năng lực. Thông thường Nô vô chính diệu thì bạn bè và người giúp việc không bền, dễ ly tán, hay thay đổi, nô bộc vào ra liên tục. Trước mướn người khó khăn, sau thì dễ hơn. Huynh Đệ Vô chủ yếu Diệu Thường không sinh sống sát anh bà mẹ, không được nhờ cậy, anh em ly tán nếu cung Huynh Đệ Vô Chính Diệu. Tuần Triệt án ngữ thì xuất sắc rộng, bạn bè tương đối mang về hậu vận, còn tiền vận thì long đong. Nhật Nguyệt tự tin hội chiếu, bạn bè thương thơm nhau, chạm mặt Tuần Triệt án ngữ thì sẽ càng tốt hơn. Hạn Vô Chính Diệu Cung Huynh đệ vô chính diệu nhị hợp cung Mệnh, đủ bộ Cự Nhật hội hợp. Mối quan hệ giữa những anh chị em trong nhà yêu thương hòa thuận. Sau này Huynh đệ rất giỏi, đời sống kinh tế giàu sang, quý hiển, có thể trợ giúp đương số trên đường đời. Phúc vô chính diệu cực kỳ cần gặp Tuần, đừng nên gặp gỡ Triệt. Nếu gặp mặt Tuần thì hưởng trọn phúc, sinh sống lâu, chạm chán Triệt thì họ mặt hàng khá giả nhưng mà không bền mang đến dù đc nhiều sao tốt nhất có thể hội chiếu, còn bạn dạng thân dễ đề nghị ly hương thơm lập nghiệp, xa phương pháp người thân. 6. Vô thiết yếu diệu sống cung ĐIỀN TRẠCH Chương49: Nghiêm Lam huynh đệ hãy theo ta. Chương trước Chương tiếp "Ùng ùng ùng….". Lực lượng ban đầu chỉ rất ôn hòa để hình thành sơ cấp hình thái tụ linh đại trận, nhưng bây giờ để bắt đầu khởi động nó thì phải vất vả hơn rất nhiều. Đại trân tụ Chính là ở trong quân, hắn còn không có như thế nào đi động, đặc biệt là Trường An bên ngoài quân sự trọng địa, hắn cũng không có một cái thích hợp lý do, lần này là một cái phi thường tốt cơ hội, hắn rốt cuộc có thể dùng chính mình quyền lực đi đề bạt một Cung Mệnh Vô Chính Diệu an tại Thìn. Cung Thân an tại Tuất có sao THIÊN CƠ, THIÊN LƯƠNG. Xem thêm lời giải: NGƯỜI MẸ Số Đường đời 6 là những phụ huynh bẩm sinh, người luôn quan tâm đến người khác dưới cái nhìn của bậc làm cha làm mẹ. Số "6" quan niệm rằng: Tình Huynh đệ: Vô huynh đệ , chỉ có tỷ tỷ . ( quỷ cốc tử: huynh đệ: xuân thuộc bay tứ tung thiên ngoại mất , một tiếng cô nhạn hạ tà dương , bạch bình đỏ liệu di bờ sông , cá phụ xa xôi vân thủy hương . Hành hạn 45-54 , này hạn cung vô chính diệu , tả hữu còn có Vay Nhanh Fast Money. Mọi người khi xem tử vi thường hay nhắc đến Mệnh vô chính diệu, nhưng không hiểu mệnh vô chính diệu là gì? Vô chính diệu là gì? Vô chính diệu còn tồn tại ở cả 12 cung chứ không chỉ ở cung Mệnh. Vậy 12 cung vô chính diệu nói lên điều gì? Hãy cùng thăm dòVô Chính Diệu là gì?Là không có chính tinh tại bản cung, như 1 khu nhà ở vô chủ, như 1 con người không có lập trường chi tiết. Vì vậy nó bị liên quan của chính tinh xung đang xem Tài bạch vô chính diệuBài Viết Mệnh vô chính diệu là gìTa cần phải biết lá số TỬ VI vuông vức như bạn cảm nhận, thực tiễn phải vẽ cho mũm mĩm mới hợp lý nhưng vẽ tròn coi bộ khó quá. Thôi thì vẽ vuông vức rất được miễn sao hiểu rằng cung chính chiếu ngay trước mắt, như khu nhà ở đối diện bên kia đường nhà bạn. Cung Vô Chính Diệu không có chủ tất bên kia nhảy vào làm chủ khu nhà ở Vô chính diệu ở cung MỆNHMấy cảnh báo về người Mệnh Vô Chính Diệu– Lúc còn bé dại thường vất vả, lận đận, hoặc hay đau yếu, khó nuôi. To lên, giảm thiểu đc bệnh tật, tai họa do nhạy bén hoặc linh cảm đc đc sự việc sắp xảy ra. Nếu là con trưởng thì không sống gần bố mẹ, nếu gần bố mẹ thì dễ chết non hoặc nghèo Thường là con vk hai, vk lẽ hoặc nàng hầu. Điều ấy người viết cảm nhận không mấy đúng nhưng vì sách Tử Vi nói thế nên cứ liệt kê.- Cuộc sống trôi nổi, cho dù đắc phương pháp thì cũng hoặc phú quý chỉ 1 thời, hoặc đáng hưởng phú quí thì lại Làm phụ tá thì bền, làm trưởng thì không bền. Vì vậy, nên vận động trong bóng tối hoặc ẩn danh là cực tốt Không có lập trường vững vàng, tư tưởng không nhất định trừ một số điều kiện nổi bật đã nêu ở phần A nhưng dễ thích ứng với hoàn Nữ Mệnh Vô Chính Diệu thì đỡ xấu hơn Nam Mệnh Vô Chính Diệu- Mệnh Vô Chính Diệu thì cần Hỏa mệnh and Kim mệnh vì Mệnh Vô Chính Diệu như nhà không nóc, cần bản mệnh có hành khí lớn mạnh cứng cỏi làm nồng cốt. Những mệnh khác như Thổ, Thủy, Mộc thì không cực Mệnh Vô Chính Diệu Đắc Tam Không thì khi đương số sinh ra, ba mẹ thường hoặc sẽ phát đạt hoặc bị khủng hoảng, tai nạn trong một thời điểm. And cuộc đời đương số khi nào cũng có sự cân chỉnh đột Mệnh Vô Chính Diệu có hung tinh độc thủ thì cần sát cánh với bản Mệnh mới là thật cực Mệnh Vô Chính Diệu mà không có Tuần, Triệt án ngữ, có thêm sao Thiên Không thủ, gọi là phương pháp ngộ Không, là người quyền biến khôn ngoan nhưng cuộc đời thăng trầm đau đớn. Nếu thêm những sao Không khác hội chiếu thì càng xấu, cuộc đời hoặc thăng trầm đau đớn hoặc sẽ bị chết yểu. Nếu có thêm hung tinh lạc hãm, khác với hành của bản Mệnh tọa thủ thì càng mất an toàn Mệnh Vô Chính Diệu có tam không Thiên không, Địa không, Địa kiếp, đc nhiều cát tinh hội họp, có thêm những vận liên tiếp cực tốt xinh thì đương số thường đc sung sướng từ bé nhưng dễ bị yểu Mệnh Vô Chính Diệu nếu có sao Thiên Tướng, Tướng Quân… đóng mà gặp Tuần Triệt án ngữ thì dễ đưa đến tai họa đột xuất cho đương Mệnh vô chính diệu mà cung Tử cũng vô chính diệu thì cả đời không con hoặc khổ về vấn đề con Vô chính diệu ở cung QUAN LỘCQuan Lộc vô chính diệu thì đương số thường không bền chí, nghề nghiệp cũng hay cân chỉnh, công danh thấp, đôi chút, hoặc có công danh nhưng không bền. Nếu không rơi vào các điều kiện nổi bật thì dù đc những sao lạc quan hội họp nhưng đường quan lộc cũng không hiển Quan Lộc vô chính diệu, có hung tinh độc thủ thì hoạch phát công danh nhưng cũng không đc đc Nhật Nguyệt lạc quan hội chiếu thì công danh tuy chậm nhưng cũng tạm khá, đương số thường vận động trên ngành nghề chính trị hoặc thương mại. Tình huống này nếu đc Tuần hoặc Triệt án ngữ sẽ làm tăng vẻ cực tốt xinh của công danh, càng về sau công danh càng cực tốt tuy khởi đầu có gặp rắc rối. Cũng cần cảnh báo rằng gặp Tuần thì công danh tuy buổi đầu có rắc rối nhưng sau vẫn sáng lạn còn gặp Triệt thì chỉ khá hơn chút chút and công danh không bền.Tình huống có Tuần Triệt án ngữ và đã được nhiều sao lạc quan hội chiếu thì công danh cũng trước bị trở ngại, sau tuy khá nhưng sự nghiệp cũng không bền, thường hoạnh phát hoạnh phá. Nếu Tuần Triệt án ngữ đồng cũng thì công danh chỉ ở mức đôi chút cho dù có đc những nhân tố khác như Mệnh Thân Phúc Hạn… cực tốt3. Vô chính diệu ở cung TÀI BẠCHTài Bạch vô chính diệu thì tiền tài không đều đặn, lúc có những lúc không, nếu có tiền của thì cũng không tụ đc lâu, tụ tán thất thường. Cho dù có đc nhiều sao lạc quan hội họp, lại lấy chính tinh xung chiếu đắc địa làm tọa thủ thì cũng đã hết giàu có to Tuần Triệt án ngữ thì đương số phát tài hơn trong việc kiến tạo tiền bạc cho mình. Tình huống này, nếu đc nhiều sao cực tốt xinh hội chiếu thì khởi đầu kiếm tiền thường phức tạp, sau mới thuận lợi nhưng cũng đã hết giàu có có hung tinh đắc địa độc thủ thì sẽ hoạnh phát nhưng thường hoạnh phá, không bền, chỉ giàu chứa một giai đc Nhật Nguyệt lạc quan hội chiếu thì thật cực tốt xinh, phát tài về tiền bạc, đặc biệt là càng về già càng đắt tiền của. Tình huống này, nếu đc thêm Tuần, Triệt án ngữ, nổi bật là Tuần, thì đương số sẽ thêm nhiều phát tài, thuận lợi trong việc kiếm tiền and chắc chắn là người giàu có Vô chính diệu ở cung THIÊN DIThiên Di vô chính diệu thì nhìn chung sẽ đã hết giàu có to đc, cho dù có nhiều sao lạc quan hợp chiếu. Ra ngoài dễ bị chi phối tiêu cực bởi môi trường xung quanh, ngoại đc Tuần Triệt án ngữ thì cuộc sống sẽ cực tốt hơn nhưng lại dễ chết xa Hung sát tinh độc thủ thì ra ngoài dễ kiếm tiền, thường kiếm đc tiền một phương pháp đột xuất, nhưng lại hao hụt nhanh gọn lẹ, kiểu hoạnh phát hoạnh phá đc Nhật Nguyệt lạc quan hội chiếu thì khá cực tốt xinh, đương số sẽ gặp nhiều phát tài, thuận lợi khi ra ngoài. Tình huống này, nếu đc Tuần, Triệt án ngữ đặc biệt là Tuần thì sự phát tài, thuận lợi tăng đều Vô chính diệu ở cungPHÚC ĐỨCPhúc vô chính diệu thì đương số thường phải xa phương pháp họ hàng hoặc không đc sống gần người thân, ruột thịt. Nếu đc chính tinh lạc quan xung chiếu and cát tinh hội họp thì chắc chắn đương số để được hưởng phúc, sống lâu and phát Phúc cung vô chính diệu đắc tam không tất để được hưởng phúc lộc dồi dào. Tuy vậy, chỉ các người Mệnh Kim, Mệnh Hỏa mới đc hưởng hết các điểm mạnh của phương pháp này, kỳ dư những Mệnh khác, đc hưởng không Hung Tinh đắc địa độc thủ thì đương số rất được hưởng phúc lộc nhưng chỉ trong một giai đoạn mà thôi. Tại Dần Thân nếu gặp Đà La độc thủ thì thường hưởng phúc, sống Phúc vô chính diệu đc Nhật Nguyệt lạc quan hợp chiếu thì tốt nhất, đương số đc hưởng phúc, sống lâu, đc nhờ cậy họ hàng. Tình huống này, nếu gặp Tuần Triệt án ngữ thì số mệnh của đương số càng cực tốt xinh ở nhiều phương vô chính diệu rất cần gặp Tuần, đừng nên gặp Triệt. Nếu gặp Tuần thì hưởng phúc, sống lâu, gặp Triệt thì họ hàng khá giả nhưng không bền cho dù đc nhiều sao cực tốt hội chiếu, còn bản thân dễ phải ly hương lập nghiệp, xa phương pháp người Vô chính diệu ở cung ĐIỀN TRẠCHĐiền vô chính diệu thường là người không đc hưởng di sản của cha ông để lại, phải tự tay tạo lập điền sản nhưng phải sau 40 tuổi mới hy vọng có chút tài sản của riêng có cung Điền vô chính diệu thường hay cân chỉnh chỗ ở, điền sản, cuộc đời cũng thăng trầm bất định, khi lên khi xuống, nhà đất khó giữ, cho dù có sao giữ của như Quả Tú. Có quan điểm cho rằng Điền vô chính diệu là khi đương số ra đời, thương mại của ba mẹ đang gặp cảnh phức tạp, sau đó mới giàu có dần.Nếu gặp Tuần Triệt án ngữ hoặc Tuần, Triệt đồng cung thì buổi đầu tuy gặp rắc rối trong việc tạo dựng điền sản, như thường phải cân chỉnh chỗ ở, mua rồi lại phải bán đi, thành bại thất thường… nhưng sau dễ dàng thuận lợi. Tuy nhiên, về già mới đc nhất định nhưng nhà đất chỉ ở mức trung cung Điền vô chính diệu đắc tam không thì điền sản tuy khá nhưng cũng không thêm Vệ Tư Lý Truyền Kỳ Vệ Tư Lý Truyền Kỳ 1998, Truyền Kỳ Vệ Tư LýNếu đc Nhật Nguyệt lạc quan hội chiếu thì trước rắc rối nhưng càng về sau càng thuận lợi, nhiều nhà đất, điền sản. Tình huống này nếu đc Tuần Triệt án ngữ sẽ càng cực tốt hơn, đương số sẽ rất giàu có and có rất đông nhà Hung sát tinh độc thủ thì tài sản tạo ra đột xuất nhanh gọn lẹ, nhưng cũng suy bại khá nhanh, nổi bật là Hỏa Linh Không Kiếp. Còn Kình Đà độc thủ thì tuy hoạnh phát hoạnh phá nhưng sau cùng vẫn đc khá Vô chính diệu ở cung NÔ BỘCNô Bộc vô chính diệu thì bè bạn and người cứu việc tôi tớ không bền, dễ ly tán. Nếu gặp Tuần hoặc Triệt án ngữ thì cực tốt hơn, tôi tớ đắc lực hơn, lúc trước mướn người phức tạp nhưng sau thì dễ hơn nhưng tôi tớ cũng không Nô cung vô chính diệu, đc Hung sát tinh độc thủ thì tôi tớ rất đắc lực nhưng thường hay lấn át chủ. Đương số có nhiều bè bạn tài năng, làm ăn táo bạo, nhưng thường phía bên trong giới giang hồ, thế giới đc Nhật Nguyệt lạc quan hội chiếu thì thật cực tốt xinh Người cứu việc đắc lực, trung thành and có nhiều bè bạn khá giả, tận tâm giúp sức đương Vô chính diệu ở cung PHỤ MẪUPhụ Mẫu vô chính diệu thì đương số thường phải ly hương lập nghiệp, không đc hưởng di sản của bố mẹ; bố mẹ thọ nhưng không giúp sức đc con cái bao nhiêu, hoặc con cái không báo hiếu đc bố mẹ gặp Tuần hoặc Triệt án ngữ thì bố mẹ tuy đc cực tốt hơn nhưng đương số dễ khắc cha hoặc khắc mẹ, hoặc đương số phải sớm xa phương pháp bố mẹ, như xa quê vì mưu sinh hay đến làm con nuôi người cung Phụ – Mẫu vô chính diệu có đc nhiều cát tinh hội họp thì đương số cũng nên sớm xa hộ gia đình, cực tốt đặc biệt là xuất ngoại thì hậu vận mới mong có thể có công danh Vô chính diệu ở cung PHU THÊPhu Thê vô chính diệu thì thường chậm lập hộ gia đình, hoặc không yêu ai mặn nồng, chóng yêu chóng chán, không có Xu thế lập hộ gia đình lớn mạnh and thường lập hộ gia đình một phương pháp đột xuất. Nên muộn lập hộ gia đình để né bị hình, chia gặp Tuần Triệt án ngữ thì buổi đầu tuy phức tạp, rắc rối nhưng sau đc cực tốt hơn, tuy nhiên cũng nên lập hộ gia đình trễ, đừng nên lập hộ gia đình sớm. Gặp Tuần cực tốt hơn gặp Hỏa Mệnh, nếu đc Đắc Tam Không thì tốt nhất, vk chồng phát tài, hòa Hung Sát tinh độc thủ thì vk chồng tuy đều giỏi giang nhưng không hòa thuận, dễ hình khắc hoặc chia đc Nhật Nguyệt lạc quan hội chiếu thì vk chồng cực tốt xinh, hòa Vô chính diệu ở cung TỬ TỨCTử Tức vô chính diệu thì thường không có con, ít con, hoặc chậm con, hoặc không nhờ cậy đc con, hoặc con đầu lòng sinh ra khó nuôi. Nhưng nếu có Tuần, Triệt án ngữ thì đương số thường chậm có con hoặc sinh con khởi đầu khó nuôi nhưng sau này con cái rất khá Hung tinh đắc địa độc thủ thì con cái khá giả nhưng khó nuôi con hoặc muộn sinh con, hoặc con cái không hợp với bố Tử Tức vô chính diệu, đc Nhật Nguyệt lạc quan hợp chiếu thì đương số sẽ thuận lợi, phát tài về đường con cái and con cái sau này khá giả, quí hiển. Tình huống này nếu đc thêm Tuần, Triệt án ngữ, đặc biệt là Tuần, thì sự phát tài về đường con cái của đương số sẽ tăng cường thêm Tử Tức vô chính diệu mà Mệnh lại vô chính diệu nữa thì chắc chắn đương số cả đời vất vả về đường con cái, rất dễ rơi vào khả năng tuyệt tự, không có Vô chính diệu ở cung HUYNH ĐỆHuynh Đệ vô chính diệu thì thường không đc nhờ cậy anh chị em, hoặc anh chị em ly tán, không ở gần anh chị đc Tuần Triệt án ngữ thì cực tốt lên, nhưng anh hoặc chị trưởng thường chết sớm. Tình huống này, anh chị em lúc tiền vận thường long đong nhưng về hậu vận sẽ khá đc Nhật Nguyệt lạc quan hội chiếu thì anh chị em thương yêu nhau, giúp sức nhau. Tình huống này lại thêm Tuần Triệt án ngữ thì càng cực tốt, anh chị em thuận hòa, quý Vô chính diệu ở cung TẬT ÁCHCung Tật Ách vô chính diệu thì chắc chắn đương số là người khỏe mạnh, ít bệnh tật tai họa nhưng khi tai họa đến thì khó né khỏi, phải gánh chịu hậu quả xấu. Nhưng nếu đc Tuần Triệt án ngữ thì thật cực tốt, đương số sẽ ít bệnh tật, tai họa. Cung huynh đệ dùng luận đoán tình cảm giữa các anh em và bản thân đương số, đồng thời xem xét đương số có được giúp đỡ hay không, cũng có thể luận đoán mối quan hệ với đồng nghiệp trong công việc. Tướng Quân Lộc Mã đồng cung Anh em có kẻ triều trung quý quyền. Luận giải cung Huynh ĐệSao Tử Vi ở cung Huynh ĐệSao Thiên Cơ ở Cung Huynh ĐệSao Thái Dương ở Cung Huynh ĐệSao Vũ Khúc ở Cung Huynh ĐệSao Thiên Đồng ở Cung Huynh ĐệSao Liêm Trinh ở Cung Huynh ĐệSao Thiên Phủ ở Cung Huynh ĐệSao Thái Âm ở Cung Huynh ĐệSao Tham Lang ở Cung Huynh ĐệSao Cự Môn ở Cung Huynh ĐệSao Thiên Tướng ở Cung Huynh ĐệSao Thiên Lương ở Cung Huynh ĐệSao Thất Sát ở Cung Huynh ĐệSao Phá Quân ở Cung Huynh ĐệSao Hóa Lộc ở Cung Huynh ĐệSao Hóa Quyền ở Cung Huynh ĐệSao Hóa Khoa ở Cung Huynh ĐệSao Hóa Kỵ ở Cung Huynh ĐệCung Huynh Đệ Phi HóaCung Huynh Đệ phi Hóa LộcCung Huynh Đệ phi Hóa Lộc nhập Cung MệnhAnh chị em đối xử rất hòa hợp với đương số, có phúc sẽ chia sẻ với đương số, có tiền cùng dùng chung, rất quan tâm đương số. Cung Huynh Đệ tự Hóa LộcCung Huynh Đệ phi Hóa Lộc nhập Cung Phu ThêCung Huynh Đệ phi Hóa Lộc nhập Cung Tử TứcCung Huynh Đệ phi Hóa Lộc nhập Cung Tài BạchCung Huynh Đệ phi Hóa Lộc nhập Cung Tật ÁchCung Huynh Đệ phi Hóa Lộc nhập Cung Thiên DiCung Huynh Đệ phi Hóa Lộc nhập Cung Nô BộcCung Huynh Đệ phi Hóa Lộc nhập Cung Quan LộcCung Huynh Đệ phi Hóa Lộc nhập Cung Điền TrạchCung Huynh Đệ phi Hóa Lộc nhập Cung Phúc ĐứcCung Huynh Đệ phi Hóa Lộc nhập Cung Phụ MẫuCung Huynh Đệ phi Hóa QuyềnCung Huynh Đệ phi Hóa Quyền nhập Cung MệnhCung Huynh Đệ tự Hóa QuyềnCung Huynh Đệ phi Hóa Quyền nhập Cung Phu ThêCung Huynh Đệ phi Hóa Quyền nhập Cung Tử TứcCung Huynh Đệ phi Hóa Quyền nhập Cung Tài BạchCung Huynh Đệ phi Hóa Quyền nhập Cung Tật ÁchCung Huynh Đệ phi Hóa Quyền nhập Cung Thiên DiCung Huynh Đệ phi Hóa Quyền nhập Cung Nô BộcCung Huynh Đệ phi Hóa Quyền nhập Cung Quan LộcCung Huynh Đệ phi Hóa Quyền nhập Cung Điền TrạchCung Huynh Đệ phi Hóa Quyền nhập Cung Phúc ĐứcCung Huynh Đệ phi Hóa Quyền nhập Cung Phụ MẫuCung Huynh Đệ phi Hóa KhoaCung Huynh Đệ phi Hóa Khoa nhập Cung MệnhCung Huynh Đệ tự Hóa KhoaCung Huynh Đệ phi Hóa Khoa nhập Cung Phu ThêCung Huynh Đệ phi Hóa Khoa nhập Cung Tử TứcCung Huynh Đệ phi Hóa Khoa nhập Cung Tài BạchCung Huynh Đệ phi Hóa Khoa nhập Cung Tật ÁchCung Huynh Đệ phi Hóa Khoa nhập Cung Thiên DiCung Huynh Đệ phi Hóa Khoa nhập Cung Nô BộcCung Huynh Đệ phi Hóa Khoa nhập Cung Quan LộcCung Huynh Đệ phi Hóa Khoa nhập Cung Điền TrạchCung Huynh Đệ phi Hóa Khoa nhập Cung Phúc ĐứcCung Huynh Đệ phi Hóa Khoa nhập Cung Phụ MẫuCung Huynh Đệ phi Hóa KỵCung Huynh Đệ phi Hóa Kỵ nhập Cung MệnhCung Huynh Đệ tự Hóa KỵCung Huynh Đệ phi Hóa Kỵ nhập Cung Phu ThêCung Huynh Đệ phi Hóa Kỵ nhập Cung Tử TứcCung Huynh Đệ phi Hóa Kỵ nhập Cung Tài BạchCung Huynh Đệ phi Hóa Kỵ nhập Cung Tật ÁchCung Huynh Đệ phi Hóa Kỵ nhập Cung Thiên DiCung Huynh Đệ phi Hóa Kỵ nhập Cung Nô BộcCung Huynh Đệ phi Hóa Kỵ nhập Cung Quan LộcCung Huynh Đệ phi Hóa Kỵ nhập Cung Điền TrạchCung Huynh Đệ phi Hóa Kỵ nhập Cung Phúc ĐứcCung Huynh Đệ phi Hóa Kỵ nhập Cung Phụ MẫuẢnh hưởng của các sao Phụ Tinh đến Huynh Đệ CungLộc Tồn Cung Huynh ĐệThiên MãTả PhùHữu BậtVăn XươngVăn KhúcThiên Khôi Cung Huynh ĐệSao Thiên Việt Cung Huynh ĐệHỏa Tinh, Linh TinhKình DươngSao Đà La ở Cung Huynh ĐệĐịa KhôngĐịa Kiếp Cung Huynh ĐệThay lời kết Trong xã hội hiện đại, dùng Tử Vi Đẩu Số luận đoán Cung Huynh Đệ, thực ra có khuyết điểm rất lớn. Ở xã hội cổ đại, trong chế độ gia đình, anh em không tách ra ở riêng. Nên Tử Vi có thể dựa vào các sao của Cung Huynh Đệ để luận đoán khái quát toàn bộ mệnh vận của gia tộc. Vì vậy ở tinh bàn, đối nhau với Cung Huynh Đệ là “Cung Nô Bộc” Có người gọi là Cung Giao Hữu. Tương hội ở tam phương là Cung Điền Trạch và Cung Tật Ách. Từ số anh em, cho đến nô bộc nhiều hay ít, có đắc lực hay không. Rồi lại tham khảo các sao của Cung Điền Trạch, luận đoán xem có điền sản hay không. Biết gia trạch có hưng vượng hay không, thì mệnh vận của cả một gia tộc có thể biết đại khái. Lại quan sát các sao của Cung Tật Ách để xem gia tộc có bệnh di truyền hay không, và có tai nạn hung hiểm hay không, thì tình hình càng rõ như chỉ bàn tay. Thời cổ đại một người phạm tội thì cả gia tộc bị liên lụy, cho nên quan sát Cung Tật Ách là rất quan trọng. Xã hội hiện đại đã không còn chế độ đại gia đình, anh chị em mỗi người đều có gia đình riêng. Hơn nữa không còn tình trạng bị liên lụy người phạm tội trong gia đình. Cho nên quan sát Cung Huynh Đệ không có gì quan trọng, cổ nhân đã đặt ra một số phép tắc, cũng có thể nói là hoàn toàn không còn hợp thời. Nhưng theo Vương Đình Chi, chúng ta vẫn có thể vận dụng tổ hợp các sao của Cung Huynh Đệ để luận đoán về người có cùng một xuất thân với đương số, và có quan hệ với đương số theo cổ pháp, Cung Huynh Đệ cũng dùng để luận đoán về bạn “đồng môn” và bạn “đồng niên”. Phàm Cung Huynh Đệ mà gặp Tả Phù, Hữu Bật, thì số anh chị em không chỉ dựa vào chính diệu để luận đoán là nhiều như “Tử Vi, Thiên Phủ”. Chủ về anh chị em có ba người, nhưng gặp Tả Phù, Hữu Bật thì có trên ba người, nhưng lại có khả năng là anh em khác mẹ, cần phải xem xét kỹ các sao của Cung Phụ Mẫu, xem có xuất hiện tình hình tái hôn, ngoại hôn hay không mà định. Có Sao Văn Xương, Sao Văn Khúc, Sao Thiên Khôi, Sao Thiên Việt, Sao Hóa Lộc, Sao Hóa Quyền, Sao Hóa Khoa, thì số anh chị em đều có thể dựa vào chính diệu để luận đoán là nhiều. Nhưng phải có “Đối Tinh” hội hợp mới có hiệu lực, hoặc cũng chủ về nhiều bạn đồng môn và nhiều người có cùng xuất thân. Cung Huynh Đệ không gặp các sao phụ tá, nhưng Cung Mệnh gặp sao phụ tá tụ tập, cũng chủ về nhiều anh chị em. Phàm Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng, Thiên Đồng, Thiên Lương, về nguyên tắc thì chủ về anh chị em hoặc bạn đồng môn, đồng sự ngang cấp hòa hợp. Nếu gặp các sao lông bông như Tham Lang, Vũ Khúc, Thất Sát, Phá Quân, Thiên Cơ, về nguyên tắc là chủ về anh chị em hoặc bạn đồng môn và đồng sự ngang cấp không đồng tâm. Gặp sát tinh thì có tranh chấp, gặp các sao Hình, Kỵ thì chủ về kiện tụng. Phàm Cung Huynh Đệ gặp các sao Hình, Kỵ, lại còn gặp Thiên Vu. Thì chủ về tranh chấp tài sản, hoặc chủ về đồng sự tranh chấp quyền lợi. Thiên Lương tọa thủ, thêm Kình Dương. Thì chủ về kiện tụng liên miên. Cung Huynh Đệ không nên gặp Hỏa Tinh, Linh Tinh, Kình Dương, Đà La, Địa Không, Địa Kiếp, vì chủ về anh chị em ở riêng nơi khác hoặc bất lợi đồng sự hoặc đồng môn thì chủ về có đố kị, tranh chấp. Sát tinh nặng mà gặp thêm Thiên Hình, Hóa Kỵ. Chủ về có hình thương. Cung Huynh Đệ gặp Lộc, Quyền, Khoa, chưa chắc chủ về anh chị em phú quý, có lúc chỉ chủ về nhiều anh chị em. Nhưng trong số anh chị em ắt sẽ có người có cảnh ngộ khá hơn đương số. Hoặc chủ về đồng sự có cùng một xuất thân thăng tiến nhanh hơn đương số. Các sao phụ, tá, sát, hóa cùng đến Cung Huynh Đệ, cát hung lẫn lộn. Chủ về hòa hợp nhưng có “hình thương”. Hoặc chủ về hòa hợp mà không giúp đỡ lẫn nhau được. Hoặc chủ về anh chị em đông nhưng hình khắc, ở riêng, tranh chấp giữa đồng sự tuy có trợ lực, nhưng lại có khuynh hướng kết bè kết đảng chống đối nhau. Đại hạn lưu niên Cung Huynh Đệ có sự cát hung, Nên Cổ Học khuyến cáo mọi người, ngoại trừ tham khảo bài này. Cần phải kiểm tra thêm tính chất của tinh hệ chính diệu tọa thủ Huynh đệ cung. Khi luận đoán về tình hình giữa đồng nghiệp với nhau, cần phải vận dụng một cách linh hoạt những điều thuật ở dưới đây. Sao Tử Vi ở cung Huynh Đệ Có anh lớn có thể nhờ vả, nương tựa hoặc chủ về được đồng sự đề bạt, hoặc anh lớn rất giàu có. Thêm Tứ Sát và Địa Không, Địa Kiếp, thì khắc hại hoặc thiếu hòa hợp, nếu không, anh chị em sẽ phá tán, thất bại, suy sụp. Anh chị em gần gũi bậc quyền quý. Gặp Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phù, Hữu Bật thì càng quý. Nhưng nếu gặp Tứ Sát, Địa Không, Địa Kiếp, Hình Kị thì chủ về hình khắc, hoặc trong anh chị em có người bị suy bại sự nghiệp. Lưu sát và Lưu kỵ nhập cung cũng nên đề phòng trong đại hạn hoặc lưu niên anh chị em bị hình khắc tổn thương hay phá tán, thất bại. Gặp Tứ Sát, nếu Cung Phụ Mẫu có Hồng Loan, Thiên Hỷ, thì có thể là anh em khác mẹ, mà còn không đồng tâm. Thiên Mã hội chiếu, anh chị em ở tứ tán, mỗi người một nơi. Gặp Thiên Phủ, ba anh chị em. Gặp Thiên Tướng, ba đến bốn anh chị em. Phá Quân hội chiếu, cũng chủ về ba anh chị em nhưng có hình khắc, hoặc chia tài sản ra ở riêng, hoặc anh chị em khác mẹ sinh ra. Nếu Cung Phụ Mẫu tụ tập các sao đào hoa, lại gặp Hữu Bật thì càng có thể luận đoán có anh chị em khác mẹ. Gặp Tả Phù, Hữu Bật, năm anh chị em trở lên. Hội hợp Văn Xương Văn Khúc, thì năm hoặc bảy người. Thêm Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thất Sát, thì anh chị em nên là số chẵn, nếu không sẽ có hình khắc. “Tử Vi Phá Quân”, ba người, bất hòa hoặc không giúp đỡ nhau, cũng chủ về khác mẹ. “Tử Vi Thiên Phủ”, ba người, anh chị em có chủ kiến riêng. “Tử Vi Tham Lang”, ba người ở nhàn cung mà gặp các sao Sát, Kỵ thì hai người, hòa mục. “Tử Vi Thất Sát”, hai người gặp các sao Sát, Kỵ thì một người. Chủ về có lòng tranh quyền. “Tử Vi Thiên Tướng”, ba bốn người thêm các sao Sát, Kỵ thì hai người tình cảm dễ sinh đổ vỡ. Sao Thiên Cơ ở Cung Huynh Đệ Sao Thiên Cơ ở Cung Huynh Đệ. Chủ về ít anh chị em, nếu gặp sao phụ tá cát thì có thể tăng thêm số người. Khi Sao Thiên Cơ nhập miếu thì hai người, gặp cát tinh thì có người hiển quý. Có Cự Môn, hoặc Thiên Lương, hoặc Thái Âm hội chiếu, thì hai người. Thiên Cơ lạc hãm thủ Cung Huynh Đệ, anh em bất hòa, có chủ kiến riêng, gặp Thiên Lương, Thiên Hình thì có tranh chấp, kiện tụng. Nếu gặp Tứ Sát, Thiên Hình, Thiên Mã. Chủ về hình khắc, chia ly. Thiên Cơ lạc hãm, gặp các sao Sát, Kỵ thì không có anh em, hoặc có hình khắc. “Thiên Cơ Thái Âm” thì hai người, gặp thêm sát tinh thì chia ly. “Thiên Cơ Cự Môn” thì hai người, có điều tiếng thị phi, tranh chấp. “Thiên Cơ Thiên Lương” thì hai người, dễ vì hoàn cảnh mà chia ly, nhưng có thể trùng phùng. Sao Thái Dương ở Cung Huynh Đệ Thái Dương nhập miếu thì anh em ba người trở lên, gặp cát tinh hội hợp thì anh em chủ về quý. Thái Dương lạc hãm và người sinh vào ban đêm, anh em phần nhiều có tranh chấp, bất hòa, chia rẽ, hoặc không giúp đỡ nhau được. Nếu gặp Tứ Sát, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình. Chủ về anh em có hình khắc, hoặc bản thân vì anh em mà bị tổn thương, họa hại một cách bất ngờ. Phàm Thái Dương lạc hãm ở Cung Huynh Đệ, nên ở riêng, ở nơi khác càng tốt. “Thái Dương Thái Âm” thì năm người trở lên. Thông thường chủ về tình cảm hòa hợp. “Thái Dương Cự Môn” thì ba người, phần nhiều anh em có người ở nước ngoài, gặp cát tinh là nhân tài sáng lập sự nghiệp. “Thái Dưong Thiên Lương” thì hai người, hãm địa thì thiếu hòa mục, gặp sát tinh thì hình khắc. Các trường hợp trên nếu gặp thêm Tả Phù, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt thì cũng có thể tăng số anh chị em. Sao Vũ Khúc ở Cung Huynh Đệ Sao Vũ Khúc ở cung Huynh Đệ về cơ bản chủ việc anh em không hòa hợp với nhau. “Vũ Khúc Thiên Phủ” đồng độ ở hai cung Tí hoặc Ngọ, thủ cung huynh đệ, có sao cát nhiều mới chủ về hòa hợp, hơi gặp sát tinh thì chủ về anh em bằng mặt mà không bằng lòng. “Vũ Khúc Thiên Phủ” đồng độ ở hai cung Tí hoặc Ngọ, có cát hóa cũng không được trợ lực, trừ khi cung mệnh gặp Tả Phụ, Hữu Bật, mới chủ về được anh em, bạn bè tương trợ. Gặp các sao sát, kị, hình, chủ về bị anh em, bạn bè gây lụy. Không gặp sao lộc, thì bị lợi dụng tranh đoạt. Cho nên nếu thấy “Vũ Khúc Thiên Phủ” thủ cung huynh đệ, thông thường không nên hợp tác với người khác. Năm ứng nghiệm là đến các cung hạn “Thiên Cơ Cự Môn”, Phá Quân, “Tử Vi, Thiên Tướng” thủ cung huynh đệ. “Vũ Khúc Tham Lang” đồng độ ở hai cung Sửu hoặc Mùi, được cát hóa, có sao cát, chủ về được anh em, bạn bè giúp đỡ, nhưng không được tranh quyền. Gặp các sao sát, kị, hình, thì trái lại, chủ về bản thân đương số là người hay giúp đỡ anh em, bạn bè. Ở cung Mùi tốt hơn ở cung Sửu. “Vũ Khúc Tham Lang” đồng độ ở hai cung Sửu hoặc Mùi, thủ cung huynh đệ, có Hỏa Tinh, Linh Tinh đồng cung, không có các sao hình, kị, mà hai cung thân mệnh lại hội sao cát và được cát hóa, chủ về nhờ anh em, bạn bè mà hoạnh phát. “Vũ Khúc Tham Lang” đồng độ ở hai cung Sửu hoặc Mùi, thủ cung huynh đệ, gặp các sao sát, kị, hình, mà các sao ở hai cung thân mệnh lại yếu, chủ về cuộc đời bị anh em, bạn bè kềm chế. “Vũ Khúc Thiên Tướng” đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, gặp cát tinh sẽ chủ được trợ lực, gặp sát tinh hoặc “Hình kị giáp ấn” thì vì chủ động giúp bạn bè mà bị liên lụy. Thường năm ứng nghiệm là cung hạn “Thiên Đồng Cự Môn” thủ cung huynh đệ. “Vũ Khúc Thiên Tướng” đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, lại chủ về được anh em hoặc bạn bè tương trợ về nghề nghiệp. “Vũ Khúc Thiên Tướng” đồng độ ở hai cung Dần hoặc Thân, có nhiều sao đào hoa, lại gặp các sao sát, kị, thì người bạn đời dễ bị bạn bè của bản thân đương số quyến rũ, dụ dỗ. “Vũ Khúc Thất Sát” đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu, thủ cung huynh đệ, gặp sát tinh, chủ về giữa anh em, bạn bè có tranh chấp tiền bạc, gặp các sao phụ, tá cát, cát hóa, chủ về được trợ lực một thời gian ngắn. “Vũ Khúc Thất Sát” đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu, nếu hợp tác với người khác, cần phải đề phòng họ lộng quyền, xâm phạm lợi ích. Vì vậy không nên hợp tác. “Vũ Khúc Thất Sát” đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu, ứng nghiệm bất lợi thường là năm đến các cung hạn Thiên Cơ, Cự Môn, “Tử Vi Phá Quân”, Thiên Đồng, Thiên Lương thủ cung huynh đệ. Vũ Khúc ở hai cung Thìn hoặc Tuất, gặp cát tinh, chủ về anh em, bạn bè hòa hợp, nhưng ít được trợ lực. Gặp các sao sát, kị, hình thì không được giúp đỡ, thậm chí còn bị liên lụy. Nếu Kình Dương, Đà La giáp Vũ Khúc Hóa Kỵ, thì chủ về vì anh em, bạn bè mà bản thân đương số bị thương tổn, hoặc hao tài rất lớn. Vũ Khúc ở hai cung Thìn hoặc Tuất, gặp sát tinh, chủ về bị anh em, bạn bè đoạt quyền. Vì vậy không nên hợp tác. Ứng nghiệm bất lợi thường là năm đến cung hạn Vũ Khúc, Phá Quân, Thất Sát thủ cung huynh đệ. “Vũ Khúc Phá Quân” ở hai cung Tị hoặc Hợi, thủ cung huynh đệ, dù gặp cát tinh, cũng không chủ về được anh em, bạn bè giúp đỡ, hợp tác cũng không lâu dài. Gặp các sao sát, kị, hình thì chủ về bị anh em, bạn bè gây trắc trở, nhưng giao du với người ngoại quốc hay người ở phương xa, hoặc người ờ xứ khác, thì tình hình tốt hơn. “Vũ Khúc Phá Quân” ở hai cung Tị hoặc Hợi, hội Liêm Trinh Hóa Kỵ và “Vũ Khúc, Phá Quân”, lại có Hỏa Tinh, Linh Tinh cùng bay đến, chủ về vì anh em hoặc bạn bè mà xảy ra tai nạn chảy máu. Năm ứng nghiệm thường là đến các cung hạn “Liêm Trinh, Thất Sát”, “Vũ Khúc Phá Quân” thủ cung huynh đệ. Vương Đình Chi kể, ông từng gặp một trường hợp thực tế là bản thân đương số cho máu bạn bè. Hễ Vũ Khúc ở cung huynh đệ, gặp Kình Dương hoặc Hỏa Tinh đồng độ, đều chủ về tranh chấp tiền bạc. Có sát tinh Địa Không, Địa Kiếp đồng độ, chủ về ít anh em, bạn bè, bản thân đương số thường cảm thấy bị cô lập. Sao Thiên Đồng ở Cung Huynh Đệ Thiên Đồng nhập miếu thì bốn người trở lên, hòa thuận nhưng ít giúp đỡ nhau. Thiên Đồng lạc hãm thì hai người, anh em nhu nhược. Thiên Đồng gặp Tứ Sát, Thiên Phủ, Địa Không, Địa Kiếp, thì anh chị em hình khắc bất hòa, nên ở riêng. Thiên Đồng độc tọa ở cung Thìn hoặc Tuất, có anh em khác mẹ. Gặp Tả Phù, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, thì có sáu người trở lên. “Thiên Đồng Cự Môn” anh chị em ba ngưòi, có điều tiếng thị phi. “Thiên Đồng Thiên Lương” thì ba người, có ngầm tranh chấp. Nếu”Thiên Đồng, Thiên Lương” ở hai cung Dần hoặc Thân mà gặp sát tinh, phần nhiều không có anh em. “Thiên Đồng Thái Âm” thì năm người. Sao Liêm Trinh ở Cung Huynh Đệ Liêm Trinh nhập miếu, anh chị em hai người, thông thường chủ về tình cảm hòa hợp. Liêm Trinh hội các sao cát Tả Phù, Hữu Bật, Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, Thiên Quý, Thiên Phủ, anh chị em năm người, còn lại ba người. Liêm Trinh gặp Tứ Sát, Địa Không, Địa Kiếp, Thiên Hình. Chủ về hình khắc, nạn tai, tật bệnh, hoặc bất hòa, nên ở riêng hay ở nơi khác. “Liêm Trinh Thiên Tướng” thì hai người. “Liêm Trinh Thiên Phủ” thì hai đến ba người. Gặp Văn Xương, Văn Khúc, Tả Phù, Hữu Bật thì ba người. “Liêm Trinh Tham Lang” thì hơi ít, có anh em cũng dễ gây oán giận. Thêm sát tinh thì chủ về không có anh em. “Liêm Trinh Thất Sát” thì một người. “Liêm Trinh Phá Quân” thì một người, nhưng tình cảm dễ xảy ra bất hòa Sao Thiên Phủ ở Cung Huynh Đệ Thiên Phủ thủ Cung Huynh Đệ. Chủ về nhiều anh em, năm người trở lên. Thiên Phủ gặp Văn Xương, Văn Khúc, Thiên Khôi, Thiên Việt, Tả Phù, Hữu Bật, anh em nhiều tài năng, mà còn giúp đỡ lẫn nhau. Thiên Phủ có Vũ Khúc, Liêm Trinh hội hợp thì có hình khắc. Gặp thêm Văn Khúc thì chủ về anh chị em phần nhiều giả dối. Gặp thêm Tứ Sát, Hóa Kỵ, Thiên Hình, Địa Không, Địa Kiếp, Đại Hao thì hình khắc bất hòa, hoặc anh chị em chỉ có hai người, cần đương số giúp đỡ Thiên Phủ có Thất Sát, Phá Quân hội hợp thì dễ chuốc oán giận. Gặp thêm Tứ Sát, Địa Không, Địa Kiếp thì anh em chỉ hai người. Sao Thái Âm ở Cung Huynh Đệ Khi Sao Thái Âm thủ Cung Huynh Đệ. Trường hợp Sao Thái Âm nhập miếu thì anh chị em năm người. Thái Âm ở hãm địa thì ba người, không đồng tâm. Có Thiên Cơ đồng độ thì hai người. Thái Âm gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền, hoặc Hóa Khoa thì anh em phú quý đa tài. Thái Âm gặp Tứ Sát, Địa Không, Địa Kiếp. Chủ về hình khắc bất hòa, hoặc ở riêng và bất hòa. Thái Âm Hóa Kỵ, hội hợp Thiên Lương, gặp sát tinh. Chủ về anh em có âm mưu. Thái Âm và Thiên Đồng đối nhau, trong anh chị em có chị cả thì tốt, nếu không dễ gặp hình khắc. Sao Tham Lang ở Cung Huynh Đệ Sao Tham Lang ở cung huynh đệ, ngoại trừ hai cung Tị hoặc Hợi là Tham Lang ở hãm địa, trong các tình hình thông thường đều chủ về anh em hòa mục, cũng chủ về giao du rộng rãi. Nhưng nếu không được cát hóa và có sao cát, phần nhiều là bạn bè chơi bời ăn nhậu. Tham Lang ở hai cung Tị hoặc Hợi là hãm địa, sao đôi mà gặp lẻ, còn gặp sao đào hoa, phần nhiều chủ về có anh em khác mẹ; gặp sát tinh, thì giữa anh em hay bạn tri giao dễ xảy ra oán trách, hoặc ý kiến khác nhau. Nếu Tham Lang Hóa Kị, chủ về bị gây phiền lụy. Tham Lang thủ cung huynh đệ, nếu đồng độ với Hỏa Tinh, Linh Tinh, gặp Thiên Thọ, chủ về được anh em hoặc bạn hợp tác trợ lực, gặp các sao sát, kị, thì chủ vệ đột nhiên bị gây lụy, khi chuyện chưa xảy ra không có dấu hiệu gì báo trước. Tham Lang ở cung huynh đệ hình thành cách cục “Phiếm thủy đào hoa”, bình sinh nhiều bạn bè tửu sắc, thường vì vậy mà bị gây lụy, thành cách cục “Phong lưu thải trượng ” cũng vậy. Đối với Tham Lang ở hai cung Tí hoặc Ngọ, cát hung phần nhiều ứng nghiệm lúc đến các lưu niên “Thiên Đồng, Cự Môn”, Phá Quân thủ cung huynh đệ. Đối với Tham Lang ở hai cung Dần hoặc Thân, cát hung phần nhiều ứng nghiệm lúc đến các lưu niên “Tử Vi, Thiên Tướng”, Phá Quân, Thất Sát thủ cung huynh đệ. Đối với Tham Lang ở hai cung Thìn hoặc Tuất, cát hung phần nhiều ứng nghiệm lúc đến các lưu niên Thiên Lương, Thiên Cơ, “Liêm Trinh, Thiên Tướng” thủ cung huynh đệ. Tham Lang ở cung huynh đệ, rất ngại Vũ Khúc Hóa Kị và Tham Lang Hóa Kị tương chiếu, nếu lại gặp cách “Linh Xương Đà Vũ”, sẽ chủ về bị gây họa mà thất bại, hoặc dẫn đến tai nạn bất trắc. Sao Cự Môn ở Cung Huynh Đệ Sao Cự Môn nhập Cung Huynh Đệ, trường hợp Cự Môn nhập miếu thì có hai người. Khi Sao Cự Môn có Thái Dương đồng độ thì anh chị em ba người. Có thêm các sao Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt, Văn Xương, Văn Khúc, Ân Quang, Thiên Quý, Thiên Phúc hội hợp, và có Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa cùng đến thì chủ về trong anh em có người sáng lập được sự nghiệp. “Cự Môn Thiên Cơ” thì hai người đều có cơ tâm, ly tán hai nơi. “Cự Môn Thiên Đồng” có anh em kết nghĩa, nhưng rốt cuộc trở mặt nhau. Phàm Cự Môn thủ Cung Huynh Đệ, có Địa Không, Địa Kiếp, Đại Hao hội chiếu, phần nhiều bị anh em bóc lột. Có Tứ Sát, Âm Sát, Cô Thần, Quả Tú hội chiếu thì hình khắc, thị phi, tranh chấp. Cự Môn Hóa Kỵ cũng chủ về điều tiếng thị phi, hơn nữa còn chủ về nạn tai, tật bệnh, phá tán, hư hao. Gặp Thiên Nguyệt, các sao hình, hao thì chủ về vì anh em nạn tai, tật bệnh mà hao tài. Sao Thiên Tướng ở Cung Huynh Đệ Thiên Tướng nhập miếu có Tả Phù, Hữu Bật hội chiếu thì năm người trở lên. Có Tử Vi đồng độ thì ba người trở lên, mà anh em hay tranh hơn thua. Thiên Tướng có Vũ Khúc hoặc Liêm Trinh đồng độ thì anh chị em hai người, nhưng ý kiến không hợp. Thiên Tướng gặp Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa và Lộc Tồn thì anh em phát đạt, có tiền có thế. Thiên Tướng có Vũ Khúc và Phá Quân vây chiếu, gặp Tả Phù, Hữu Bật thì anh em tuy nhiều nhưng có hình thương, hoặc có anh em khác mẹ, và có em nhỏ hơn rất nhiều tuổi, khoảng 8 tuổi hoặc 12 tuổi trở lên. Sao Thiên Lương ở Cung Huynh Đệ Thiên Lương nhập miếu thủ Cung Huynh Đệ, hội hợp với Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt thì năm người trở lên, hơn nữa, anh chị em hòa mục. NếuThiên Lương nhập miếu mà không có Tả Phù, Hữu Bật hội hợp. Chủ về có anh em khác mẹ. Phàm Sao Thiên Lương nhập miếu gặp Thiên Khôi, Thiên Việt mà không có Tả Phù, Hữu Bật, anh em ruột chỉ hai ba người, có ngầm tranh chấp, bài xích nhau, hoặc xa nhau. Thiên Lương có Thái Dương đồng độ ở hai cung Mão hoặc Dậu. Chủ về tranh đoạt gia sản, hoặc xảy ra hiểu lầm, đố kị. Thiên Lương có Thiên Cơ đồng độ hoặc hội chiếu thì anh em có hai người. Thiên Lương có Thái Âm, Hồng Loan, Thiên Hỉ hội chiếu thì nhiều chị em gái. Thiên Lương có Thiên Đồng đồng độ thì ờ chung một nơi thì hai người, ở riêng hoặc ở nơi khác thì ba người. Thiên Lương có Tứ Sát, Thiên Hình, Địa Không, Địa Kiếp hội hợp thì có hình khắc, bất hòa, chia rẽ, tranh chấp. Sao Thất Sát ở Cung Huynh Đệ Thất Sát nhập miếu mà có Lộc, Quyền, Khoa, Tả Phù, Hữu Bật hội chiếu thì nhiều anh em, nhưng có hình khắc. Thất Sát thủ Cung Huynh Đệ, có Tả Phù, Hữu Bật hội chiếu, hoặc Tả Phù, Hữu Bật hội chiếu Cung Mệnh, cũng chủ về nhiều anh em nhưng có hình khắc, chia ly, tình cảm hòa mục nhưng ít giúp nhau thực tế. Thất Sát ở hai cung Dần hoặc Thân thì anh em phần nhiều tài năng và thanh cao. Thất Sát ở hai cung Tị hoặc Hợi, anh em có thể quý. Thất Sát hại cung Thìn hoặc Tuất, anh em có thể phú. Thất Sát nếu có sát tinh Hóa Kỵ hội chiếu, thì có nạn tai, tật bệnh, hình khắc, chia ly. Sao Phá Quân ở Cung Huynh Đệ Phá Quân chủ về anh em ở riêng hoặc hình khắc. Phàm Phá Quân thủ Cung Huynh Đệ, bản thân thường là con cả, hoặc tuy ở hàng thứ hai hay ba, nhưng trong một số tình huống, tuy không phải là anh cả mà cũng giống như anh cả. Như trường hợp anh cả mất sớm hoặc làm con nuôi người khác, hoặc chị gái đi lấy chồng, hoặc bản thân làm con nuôi người khác. Nếu không, bản thân cũng gánh vác trách nhiệm của trưởng nam hay trưởng nữ. Phá Quân có lục cát tinh đồng độ hoặc hội chiếu. Chủ về anh em nương tựa lẫn nhau. Phá Quân thủ Cung Huynh Đệ, có sát tinh hội chiếu thì hình khắc, cô độc. “Tử Vi Phá Quân” đồng độ thì ba người, nhưng bất hòa hoặc có anh em khác mẹ. Đồng sự thì dễ kết bè kết đảng. Vũ Khúc và Phá Quân đồng độ thì hai người. Gặp sát tinh thì một người nhưng thiếu hòa mục. Liêm Trinh và Phá Quân đồng độ thì chỉ một người. Sao Hóa Lộc ở Cung Huynh Đệ Khi Sao Hóa Lộc năm sinh ở Cung Huynh Đệ, chúng ta có các trường hợp cụ thể như sau Anh chị em đông người, khá giả. Hóa Lộc, Tướng Quân, Lộc Tồn, anh chị em có người quyền quý. Hóa Lộc, Thiên Mã, anh chị em có người buôn bán mà làm giàu. Sao Hóa Quyền ở Cung Huynh Đệ Khi Sao Hóa Quyền năm sinh ở Cung Huynh Đệ, chúng ta có các trường hợp cụ thể như sau Như đã thuật ở trước, đối với các cung lục thân thì dùng phương pháp so sánh để luận đoán. Trường hợp Hóa Quyền rơi vào Cung Huynh Đệ, là chủ về tính quyền uy, lực hành động mạnh mẽ. Như vậy có thể biết anh em có uy hơn đương số, cũng tích cực hơn đương số, đồng thời các quyết định lớn nhỏ trong nhà cung đều do anh em làm chủ. Hóa Quyền còn đại biểu cho kĩ năng chuyên nghiệp và năng lực chuyên môn, cho nên anh em của đương số phần nhiều là người có kĩ năng chuyên nghiệp. Nếu lấy Cung Huynh Đệ lập thái cực mà Hóa Lộc và Hóa Kỵ nhập “ngà cung”, thì anh em phần nhiều là người có địa vị xã hội. Tiếp theo trên, Hóa Quyền ở Cung Huynh Đệ, ở trong tuyến “huynh nô” là có ý so sánh đẳng cấp. Cho nên những người đương số giao du phần nhiều là người có địa vị xã hội cao hơn đương số. Do đó có thể suy ra đương số có quan hệ giao tiếp khá tốt, mà địa vị xã hội của đương số cũng nhờ đó mà được nâng lên. Nhưng vì Hóa Quyền ở Cung Huynh Đệ, nên đương số thiếu năng lực hành động, thiếu thực tiễn. Phần nhiều còn trông cậy vào anh em. Muốn biết anh em trợ giúp có thực chất hay không thì phải xem tình hình Hóa Lộc, Hóa Kỵ và Cung Huynh Đệ phi hóa như thế nào. Vì Hóa Quyền ở Cung Huynh Đệ, tất nhiên có tượng đè ép, nên phần nhiều đương số có anh trai hoặc chị gái, mà không phải là trường nam hay trường nữ có thể là anh hay chị yếu mạng. Bản chất của Hóa Quyền là “hỏa” chủ về có biến động nhanh chóng, nóng bỏng. Trường hợp Hóa Quyền ở Cung Huynh Đệ, thì sự qua lại giữa đương số và anh em khá nhiệt tình, dù quan hệ có thay đổi cũng không đến nỗi có chiến tranh lạnh. Cung Huynh Đệ là “kho” của Cung Tài Bạch, Hóa Quyền ở “kho tiền” tiếp theo điều 5, bản thân đương số điều độ tiền bạc khá nhanh, vì vậy phải có tiền lưu chuyển ở trong “kho”, tất nhiên cũng có của cải để sử dụng. Đặc biệt là người có Hóa Lộc và Hóa Kỵ [năm sinh] nhập “ngã cung”, phần nhiều không cần lo lắng về tiền bạc, của cải. Tiếp theo trên, nếu thấy Địa Không, Địa Kiếp và Hóa Quyền cùng ở Cung Huynh Đệ, tình hình điều độ tiền bạc sẽ mỗi lúc càng ít đi, càng khó khăn hơn. Còn thấy Kình Dương, Đà La, thì việc điều độ càng kịch liệt, có cũng chỉ miễn cưỡng, gắng gượng, lấy đằng đông đắp đằng tây. Cung Huynh Đệ là cung vị khí số của Cung Tật Ách, có Hóa Quyền, là chủ về thế chất mạnh mẽ dẻo dai, có thể chịu đựng sự đả kích từ bên ngoài của Hóa Kỵ, thường thường còn có lực đề kháng đối với tai hại bất ngờ. Cung vị khí số của Cung Tật Ách cũng là cung dùng để tìm hiểu tâm tư sâu kín. Hóa Quyền ở Cung Huynh Đệ. Chủ về tâm tư sâu kín của đương số vận tác một cách mau lẹ, trong đó đương số còn có kì vọng tự lập tự cường, và ý đồ phấn đấu đi lên nhưng những kì vọng và ý đồ của đương số sẽ khó thực hiện, vì Hóa Quyền ở “tha cung” nên sức tưởng tượng lớn hơn lực tạo tác. Cung Huynh Đệ ở giữa Cung Mệnh và Cung Phu Thê, là cầu nối giữa đương số với người phối ngẫu, có Hóa Quyền, là chủ về đương số đang ở trong giai đoạn nói chuyện yêu đương, tác động lẫn nhau dồn dập, cũng không thiếu sự tranh chấp. Cũng vì là cung vị cầu nối, nên còn có hàm ý đương số vì tình yêu mà phải bôn ba ngược xuôi. Là cung vị cầu nối, mà còn là cung vị đại biểu cho mẹ, nên có thể xem là gia đình chồng hay gia đình vợ phát huy sức ảnh hưởng của mình, cũng có ý tượng xen vào cuộc sống hôn nhân của đương số. Hơn nữa, lấy khái niệm so sánh để luận, Cung Huynh Đệ có Hóa Quyền thì gia đình chồng hay gia đình vợ có quyền uy tuyệt đối, cũng có thể vì vậy mà cuộc sống hôn nhân của đương số không được yên ổn. Vì Cung Huynh Đệ là cung vị đại biểu cho mẹ, do đó mẹ của đương số cũng sức ảnh hưởng mạnh. Cung Huynh Đệ là cung vị biểu hiện của Cung Điền Trạch, có Hóa Quyền, thì đối với việc trang hoàng trong nhà đương số có yêu cầu thực dụng, có phong cách. Hơn nữa, vì Hóa Quyền chủ về biến động lớn, nên gia cụ trong nhà hay thay đổi hoặc dời chuyển, và thường có khách đến thăm. Vả lại, không loại trừ trường hợp chính bản thân đương số cũng thường hay dời chuyển. Sao Hóa Khoa ở Cung Huynh Đệ Khi Sao Hóa Khoa năm sinh ở Cung Huynh Đệ, chúng ta có các trường hợp cụ thể như sau Trường hợp Hóa Khoa ở Cung Huynh Đệ, vì có lực tác động của tứ hóa khiến Cung Huynh Đệ có biến động thay đổi, thông thường chủ về đương số không phải là con độc nhất, mà có anh chị em. Trường hợp Hóa Khoa ở Cung Huynh Đệ, vì có tính so sánh nên phần nhiều anh chị em trông có khí chất và học vấn hơn đương số. Thông thường họ có sở học tính chuyên, hay học lực cao hơn đương số. Hóa Khoa chủ về bảo vệ, trật tự hóa. Trường hợp có Hóa Khoa ở Cung Huynh Đệ là ngầm báo ông trời che chở anh chị em của đương số, bảo vệ sinh mệnh hay tài sản của họ. Do có tác dụng trật tự hóa, làm cho thông suốt, hòa hợp, nên thường thường anh chị em rất thương yêu nhau. Dù có xảy ra chuyện tranh chấp cãi vã với anh chị em, rốt cuộc vẫn có thể vãn hồi. Cung Huynh Đệ còn có ý tượng là “kho tiền bạc”, lúc xem xét ở góc độ “kho tiền bạc”, đương nhiên yêu cầu cung này nên tĩnh, không nên động. Mà lực tác động của Hóa Khoa là “bảo vệ”, “bảo đảm”, nên trong trường hợp ở Cung Huynh Đệ là chủ về lúc tuổi trẻ tiền túi và tiền để dành của đương số đã hơn người. Ngoài ra, còn chủ về đương số quản lí tiền bạc khá cẩn thận, hợp lí. Cung Huynh Đệ còn là cung vị đại biểu cho mẹ, trường hợp có Hóa Khoa, xét ở góc độ so sánh, mẹ là người thông tình đạt lý, xử lí việc nhà cũng có lớp lang rõ ràng. Cung Huynh Đệ còn là cầu nối giữa Cung Mệnh và Cung Phu Thê, có thể dùng để xem về cha mẹ chồng hay cha mẹ vợ. Trường hợp có Hóa Khoa, thông thường song thân của “một nửa kia” là người thông tình đạt lý, không thù cựu, sẽ không làm khó đương số. Nhưng lực tác động của Hóa Khoa phần nhiều sẽ khiến cho bậc trưởng bối chi trợ lực cho đương số về tình cảm, chớ không phải về tiền bạc. Lúc bậc trưởng bối giúp đỡ tiền bạc thì hầu hết đã là lúc đương số rất nguy cấp. Cung Huynh Đệ là cung vị khí số của Cung Tật Ách, trường hợp có Hóa Khoa, phần nhiều là chủ về đương số có sức khỏe tốt, thể chất không tệ, ít khi bị các bệnh vặt như cảm mạo. Vì Hóa Khoa ở đối cung của Cung Nô Bộc, nên sẽ khiến cho “nô bộc” của đương số ít có ý niệm bất chính trong đầu. Cũng do Hóa Khoa ở tuyến “huynh nô” là chủ về bảo vệ, giải ách, nên sẽ khiến đương số ít khi gặp bất trắc, vô cớ bị tổn hại, tổn thất. Cung Huynh Đệ là cầu nối giữa đương số với vợ hoặc chồng, trường hợp có Hóa Khoa, có thể đoán là giữa hai người có trò chuyện trao đối với nhau, cũng có không ít cơ hội kết giao bạn khác giới, mà còn có thể duy trì mối liên hệ vui vẻ. Hơn nữa, thường thường nhờ giữa vợ chồng có sự hiểu biết nhau, vì vậy dù không còn tình yêu, hai người vẫn có thể nói lời chia tay một cách tốt đẹp. Cung Huynh Đệ còn là cung vị giao dịch của Cung Điền Trạch, trường hợp có Hóa Khoa, lúc đương số muốn điều phối lại “điền trạch” của mình, thông thường đều có thể rời khỏi tay mình với giá cả hợp lí, mà không bị tổn thất. Bất động sản của đương số thường thường có vẻ bề ngoài thanh nhã, hoàn cảnh chung quanh không tệ. Phần nhiều số bất động sản của đương số đều có thể giữ được nguyên giá trị, không bị ảnh hưởng lên xuống của thị trường. Cung Huynh Đệ là “tha cung”, có Hóa Khoa. Chủ về bản thân đương số không có năng lực xử lí nguy cơ, mà thường thường đến gian đoạn thứ hai mới được người khác trợ giúp, ít nhiều đương số cũng có mặc cảm “bất túc”. Hóa Khoa ở Cung Huynh Đệ, là đương số giao cho anh chị em lực tác động của Khoa nhưng không phải anh chị em là quý nhân của đương số, mà trái lại, đương số là quý nhân của anh chị em, sau khi trợ giúp và bảo vệ anh chị em rồi đương số mới có được cảnh anh em trợ giúp nhau. Sao Hóa Kỵ ở Cung Huynh Đệ Khi Sao Hóa Kỵ năm sinh ở Cung Huynh Đệ, chúng ta có các trường hợp cụ thể như sau Do lực tác động của Hóa Kỵ, bất luận thế nào đương số cũng đều rất khó không ngó ngàng đến anh em, phần nhiều đều rất quan tâm anh em. Nhưng đồng thời cũng vì tác động của Hóa Kỵ, nên phương cách xử lí và biểu hiện ngôn từ của đương số không được hòa hợp, khiến quan hệ với anh chị em không được hòa hợp. Hóa Kỵ ở Cung Huynh Đệ, xem xét ở góc độ so sánh hơn kém, anh chị em là những người dễ gây ra phiền phức, đương số thường vì anh em mà đau đầu nhức óc. Nhưng vì Hóa Kỵ chủ về đối đãi với nhau, do đó lúc anh chị em có nạn, đương số nhất định sẽ trợ giúp, nhưng lại dễ rơi vào tình trạng càng giúp thì càng bận rộn. Hóa Kỵ còn cò hàm ý “trông đợi”, “kì vọng”, trường hợp Hóa Kỵ ở Cung Huynh Đệ, là đương số quá kì vọng ở anh em. Nhưng do Hóa Kỵ nhập “tha cung”, sau khi quá kì vọng đương số sẽ cảm thấy “hụt hẫng”, cũng có thể từ thương yêu biến thành oán hận, tình hình này sẽ khiến quan hệ giữa anh em trở nên khó hòa hợp, còn thấy thiếu tình thân. Hóa Kỵ ở Cung Huynh Đệ, là tác động mất quân bình đóng trong cung, nên chủ về có nhiều anh chị em. Cung Huynh Đệ là cung vị điền trạch của Cung Tài Bạch, nên có hàm ý nắm của cải trong bàn tay, trường hợp Hóa Kỵ ở Cung Huynh Đệ là chủ về lúc điều độ tiền bạc, của cải sẽ có vấn đề, nếu là người kinh doanh buôn bán thì cần phải dự phòng trường hợp điều chuyển vốn liếng mất linh hoạt, còn người đi làm hưởng lương thì dễ túng quẫn. Tổng hợp ý 2, 3, và 5, đương số không nên có sự qua lại tiền bạc với anh chị em, thường thường sẽ có tổn thất về tiền bạc. Hơn nữa, trong đời đương số dễ xảy ra một lần “phá tài” lớn, do đó nếu muốn cho anh chị em mượn tiền, tốt nhất nên chuẩn bị tâm lý. Theo Tứ Hóa phái, Cung Huynh Đệ là cung vị giao dịch của Cung Điền Trạch, trường hợp có Hóa Kỵ ở Cung Huynh Đệ, là chủ về cầm cố bất động sản để vay tiền, hoặc sẽ thấy tình trạng vay số tiền vượt quá giá trị tài sàn thế chấp, bởi vì Hóa Kỵ có hàm ý “tham nhiều”. Nhưng nếu rơi vào tình huống Hóa Quyền và Hóa Kỵ “giao chiến”, là chủ về khó bán bất động sản. Theo thứ tự sắp xếp các cung, Cung Huynh Đệ là cầu nối giữa Cung Mệnh và Cung Phu Thê, cho nên trường hợp có Hóa Kỵ ở đoạn trung gian, là chủ về đương số giao du với người khác giới sẽ có lúc đột nhiên đứt đoạn, không liên lạc nhau, không qua lại với nhau. Hoặc có một khoảng thời gian không giao du bạn khác giới. Tiếp theo trên, Cung Huynh Đệ cũng tượng trưng cho phương thức giao lưu của hai người, trường hợp có Hóa Kỵ, giữa đương số và người phối ngẫu hoặc người yêu sẽ dễ vì sự giao lưu không được tốt mà xảy ra tình trạng hiểu lầm. Cho nên, đương số trong thời kỳ giao du muốn tiến tới hôn nhân sẽ gặp trở lực trùng trùng, thường hay xảy ra sự cố một cách đột ngột. Sau khi hôn nhân thành lập, giữa hai người dễ xảy ra tranh chấp cãi vã, thường thấy tình trạng dùng ngôn từ chua cay hoặc khắc bạc mắng nhiếc nhau. Ngoài ra, Cung Huynh Đệ còn đại biểu cho cha mẹ vợ hoặc cha mẹ chồng của đương số. Trường hợp có Hóa Kỵ, là chủ về các bậc trưởng bối này thường hay cản trở hôn nhân của hai người. Hơn nữa, giữa hai người cũng thường có sự hiểu lầm. Trong rất nhiều cách cục, Cung Huynh Đệ có Hóa Kỵ sẽ là sát thủ đối với hôn nhân. Cung Huynh Đệ cũng là cung vị khí số của Cung Tật Ách, trường hợp Hóa Kỵ ở Cung Huynh Đệ, là chủ về thể chất của đương số không được tốt, lúc mắc bệnh có sức đề kháng yếu. Lúc đương số đến tuổi trung niên, cần phải kiểm tra sức khỏe định kì, để dự phòng các chứng cấp tính. Vì Cung Huynh Đệ cư ở cung vị thiên di của Cung Nô Bộc, thêm vào đó là ý của điều 6, giữa đương số và bạn bè tốt nhất là không nên qua lại tiền bạc, nếu không sẽ rất dễ xảy ra phiền phức. Cung Huynh Đệ có Hóa Kỵ không những chủ về bản thân sẽ bị tổn thất, mà còn vì Hóa Kỵ đến xung Cung Nô Bộc, mà tình bạn có thể bị tổn hại. Cung Huynh Đệ Phi Hóa Cung Huynh Đệ phi Hóa Lộc Cung Huynh Đệ phi Hóa Lộc nhập Cung Mệnh Anh chị em đối xử rất hòa hợp với đương số, có phúc sẽ chia sẻ với đương số, có tiền cùng dùng chung, rất quan tâm đương số. Cung Huynh Đệ tự Hóa Lộc Trong anh chị em, có người rất thông minh, có khẩu tài, rất có duyên với người chung quanh, đi xa cát lợi, vận trình tốt đẹp. Đương số rất hiếu khách, tính tình rộng rãi, quan hệ giữa đương số với anh em hoặc bạn bè thân cận rất vui vẻ, chỉ cần trong tay đang có tiền, bạn bè cần giúp đỡ, đương số không bao giờ từ chối, mà cũng chẳng để ý đến chuyện viết giấy nợ hoặc thế chấp. Cung Huynh Đệ phi Hóa Lộc nhập Cung Phu Thê Chị em dâu sống hòa mục với nhau, gia đình vui vẻ hạnh phúc, anh chị em giúp đỡ lẫn nhau. Sự nghiệp có lợi, có thể toan tính. Sau kết hôn tài vận tốt. Người phối ngẫu được trưởng bối trông nom, có thể được hưởng tiền của hoặc di sản của cha mẹ. Cung Huynh Đệ phi Hóa Lộc nhập Cung Tử Tức Chị em dâu sống hòa mục với nhau, gia đình vui vẻ hạnh phúc, anh chị em bận rộn trong sự nghiệp, thường đi xa, ra bên ngoài thuận lợi, có thể thu được lợi. Cuộc sống gia đình rất sung túc, được hưởng thụ, chi tiêu thoải mái, tuy không bị thấu chi, nhưng cũng khó dành dụm. Anh chị em đi làm ăn, sẽ mang tiền của gia đình đi đầu tư. Cung Huynh Đệ phi Hóa Lộc nhập Cung Tài Bạch Anh chị em giúp đỡ lẫn nhau về tiền bạc, quan hệ giao tiếp của anh chị em rất tốt đẹp, có duyên với người khác giới, con cái của họ thông minh lanh lợi. Tài vận của đương số hưng vượng, làm ăn kiếm được tiền, tiền do bản thân đương số kiếm được cũng có thể là tiền trong ngành giải trí. Cung Huynh Đệ phi Hóa Lộc nhập Cung Tật Ách Anh chị em có quan hệ giao tiếp không tệ, giao du với người ta khá hòa hợp, hòa khí sinh tài. Bản thân cũng được hưởng thụ. Lúc còn nhỏ thể chất của đương số không được tốt, nhiều nạn tai bệnh tật, được cha mẹ trông nom chăm sóc. Không keo kiệt với bản thân, ăn mặc dùng toàn đồ cao cấp. Cung Huynh Đệ phi Hóa Lộc nhập Cung Thiên Di Anh chị em là người lạc quan, ở bên ngoài có duyên với người chung quanh, rất quan tâm chăm lo cho đương số, sự nghiệp của đương số có anh em trợ lực, kiếm được tiền. Ra ngoài có nhiều bạn bè, quan hệ giao tiếp tốt, chi tiêu nhiều cho sinh kế gia đình. Cung Huynh Đệ phi Hóa Lộc nhập Cung Nô Bộc Anh chị em ở bên ngoài phần nhiều đều vui vẻ, có quý nhân giúp đỡ, hướng ngoại, thường đi xa, ra ngoài kiếm được tiền. Sự nghiệp có không gian để phát triển, bạn bè có thể giúp đương số kiếm tiền. Gia đình chi dụng nhiều tiền. Cung Huynh Đệ phi Hóa Lộc nhập Cung Quan Lộc Vốn liếng sung túc, sự nghiệp có phát triển. Cung Huynh Đệ phi Hóa Lộc nhập Cung Điền Trạch Có thể mở tiệm kinh doanh, hoặc làm ăn liên quan đến bất động sản. Tiền kiếm được sẽ lo cho gia đình hoặc dùng vào chuyện hợp lí. Anh em có thể ở chung với nhau, chị em dâu hòa mục. Cung Huynh Đệ phi Hóa Lộc nhập Cung Phúc Đức Anh chị em có tiền, giúp đỡ lẫn nhau, con cái của họ có tài. Tiền đương số kiếm được phần nhiều dùng vào việc theo đuổi thị hiếu. Cung Huynh Đệ phi Hóa Lộc nhập Cung Phụ Mẫu Tình cảm của cha mẹ tốt đẹp, anh chị em hiếu thảo với cha mẹ, được trưởng bối đề bạt, nâng đỡ. Tài vận của đương số hưng vượng, có thể dựa vào trưởng bối, được bạn bè trợ lực kiếm tiền, nhưng cũng dễ người ta lừa đảo. Cung Huynh Đệ phi Hóa Quyền Cung Huynh Đệ phi Hóa Quyền nhập Cung Mệnh Anh chị em có cá tính cương cường, cố chấp ý kiến của mình, phản ứng mẫn tiệp, có tài năng, khá tự phụ, cũng thích tạo sự chú ý. Ra ngoài gặp nhiều thị phi. Có nhiều quan điểm khác với đương số, nhưng cũng sẽ hỗ trợ đương số. Công việc khá bận rộn, nặng tinh thần trách nhiệm. Cung Huynh Đệ tự Hóa Quyền Có địa vị, nắm quyền trong nhà, thường hay xảy ra tranh chấp với anh chị em. Anh chị em có tính tình bướng bỉnh, có năng lực. Giao du với bạn bè có cá tính mạnh, sáng suốt, tinh tế, tài cán, ưa tạo sự chú ý. Lúc ra bên ngoài tốt nhất không nên tranh quyền với bạn bè, nếu không sẽ có nhiều thị phi. Thường phải chi một khoản tiền lớn cho chi tiêu trong gia đình. Cơ thể dễ bị tổn thương bất ngờ. Cung Huynh Đệ phi Hóa Quyền nhập Cung Phu Thê Người phối ngẫu có thể được trưởng bối công nhận, giúp đỡ. Giữa chị em dâu có nhiều ý kiến không hợp nhau. Anh chị em cung cấp nhiều ý kiến cho sự nghiệp của đương số, sẽ có trợ giúp. Cung Huynh Đệ phi Hóa Quyền nhập Cung Tử Tức Chị em dâu có nhiều ý kiến khó hợp nhau, anh chị em trong nhà cũng khá phách lối, hay ra oai, lúc cha mẹ phân chia tài sản sẽ có tình trạng so bì. Có năng lực sáng lập cơ nghiệp, tiền đương số kiếm được thường phải tiêu một khoản tiền lớn, tuy không bị thấu chi, nhưng cũng khó dành dụm. Cung Huynh Đệ phi Hóa Quyền nhập Cung Tài Bạch Vận dụng đồng vốn rất linh hoạt, lấy tiền đẻ ra tiền, lấy tiền dành dụm ra đầu tư, sáng lập cơ nghiệp. Hợp tác với anh chị em sẽ xuất nhiều vốn hơn, là cổ đông lớn. Lúc giao du sẽ có tác phong ở thế mạnh. Cung Huynh Đệ phi Hóa Quyền nhập Cung Tật Ách Anh chị em phần nhiều đều có cá tính mạnh, thể lực tốt, sức hoạt động khá mạnh, cũng dễ bị ngoại thương. Đối xử với người khác bằng thế mạnh, hiếu thảo với cha mẹ, nhưng cũng có mâu thuẫn. Đương số thường mang tiền kiếm được tiêu xài cho việc giữ gìn sức khỏe, mua thực phẩm bổ dưỡng. Cung Huynh Đệ phi Hóa Quyền nhập Cung Thiên Di Anh chị em đối xử với đương số bằng thế mạnh, có nhiều áp lực và ý kiến về đương số. Anh chị em lúc còn nhỏ rất nghịch ngợm, dễ bị tổn thương, nhưng có tài năng, được người ta xem trọng. Bản thân mệnh tạo cũng hiếu cường, ở bên ngoài ưa cạnh tranh với người khác. Tiền đương số kiếm được sẽ bị người phối ngẫu quản lí, phải chi ra một khoản tiền lớn cho việc chi dụng trong gia đình. Cung Huynh Đệ phi Hóa Quyền nhập Cung Nô Bộc Anh chị em rất có năng lực, thích tranh cường hiếu thắng, dễ chuốc thị phi. Đương số cũng có năng lực làm việc, sự nghiệp có cạnh tranh, có thể được khẳng định. Chi tiêu trong gia đình tuy nhiều, nhưng không đến nỗi mất kiểm soát. Cung Huynh Đệ phi Hóa Quyền nhập Cung Quan Lộc Sẽ mang tiền dành dụm ra đầu tư, hợp tác với anh chị em hoặc bạn bè sẽ chiếm nhiều vốn hơn, nhưng không làm người gánh trách nhiệm. Sự nghiệp có phát triển, có thể kiếm tiền, sẽ mở rộng. Cung Huynh Đệ phi Hóa Quyền nhập Cung Điền Trạch Anh chị em nắm quyền trong gia đình, lúc cha mẹ phân chia tài sản sẽ có tranh chấp, chị em dâu ở chung không hòa hợp. Đương số có thể mở tiệm kinh doanh hoặc mua bán bất động sản. Tiền kiếm được sẽ chi dụng trong gia đình, hoặc mua tậu bất động sản hay dùng cho việc hợp lí khác. Cung Huynh Đệ phi Hóa Quyền nhập Cung Phúc Đức Anh chị em có năng lực quản lí tài chính, hợp tác làm ăn với người khác vừa xuất vốn vừa ra sức, cũng chú trọng chuyện phô trương. Năng lực kiếm tiền của đương số không tệ, nhưng cũng dám tiêu tiền cho việc hưởng thụ, cho thị hiếu, hoặc để phô trương. Cung Huynh Đệ phi Hóa Quyền nhập Cung Phụ Mẫu Cha mẹ là người có cá tính mạnh, thường có tranh chấp, việc kết hôn của họ là quyết định đột ngột, kiểu tiếng sét ái tình. Anh chị em hiếu thảo với cha mẹ, nhưng hay cãi lí. Đương số rất biết kiếm tiền, thường kiếm được tiền trong tình hình cạnh tranh. Cung Huynh Đệ phi Hóa Khoa Cung Huynh Đệ phi Hóa Khoa nhập Cung Mệnh Anh chị em sống hòa mục, gặp chuyện cấp bách cũng sẽ trợ giúp đương số. Công việc, sự nghiệp của đương số đều bình ổn, kiếm được tiền nhưng cũng không nhiều lắm. Có thể dựa vào tài năng và kĩ thuật chuyên môn để kiếm tiền. Sinh hoạt gia đình bình ổn. Cung Huynh Đệ tự Hóa Khoa Anh chị em có tính khí tốt, hiền hòa lễ độ, thanh tú, đoan trang. Biểu hiện bề ngoài của đương số khá ôn hòa nho nhã, cũng thường giao du với bạn bè có tu dưỡng tính tình, có học thức, giao du với bạn bè khá hòa hợp, ít có xung đột. Trong anh em với nhau cũng không so đo lợi hại, xử sự hòa hợp. Cơ thể của đương số ít có tai ách nghiêm trọng. Tình hình chi tiêu trong gia đình bình ổn, không lo thiếu thốn. Cung Huynh Đệ phi Hóa Khoa nhập Cung Phu Thê Anh chị em xử sự hòa hợp với người phối ngẫu của đương số, chị em dâu sống hòa mục với nhau, đối với sự nghiệp của đương số họ cũng có quan tâm, trợ lực. Người phối ngẫu phần nhiều được trưởng bối quý nhân quan tâm, yêu mến, đề bạt nâng đỡ, thích hợp làm công chức, theo sự nghiệp văn giáo. Cung Huynh Đệ phi Hóa Khoa nhập Cung Tử Tức Người phối ngẫu của anh chị em phần nhiều đều có gia thế thanh bạch, hiền hòa lễ độ, khiêm tốn. Chị em dâu hòa thuận. Sự nghiệp, công việc của anh chị em đều bình thuận, có tài năng, ở bên ngoài có thanh danh. Tiền đương số tích lũy được tiêu hao không nhiều, không lo thiếu thốn tiền chi dụng trong sinh hoạt. Cung Huynh Đệ phi Hóa Khoa nhập Cung Tài Bạch Anh chị em quản lí tài chính có kế hoạch, nguồn tiền bình thuận. Đương số giỏi sử dụng đồng vốn cân đối thu chi, dùng tiền đẻ ra tiền, nhưng không đầu cơ mạo hiểm, vận dụng rất ổn thỏa. Cung Huynh Đệ phi Hóa Khoa nhập Cung Tật Ách Đa số anh chị em đều khỏe mạnh, ít bệnh đau, gặp nạn sẽ có có quý nhân giúp đỡ. Bản thân đương số tuy không thấy cường tráng nhưng cũng ít bệnh đau, có thể phùng hung hóa cát, dù có nạn tai bệnh tật, cũng dễ chữa khỏi, lúc bình thường cũng biết trông nom sức khỏe. Cung Huynh Đệ phi Hóa Khoa nhập Cung Thiên Di Anh chị em ra ngoài phần nhiều đều được quý nhân xem trọng, cũng rất quan tâm và có thể trợ giúp đương số. Người phối ngẫu của đương số quản lí tài chính có kế hoạch, không có theo đuổi chuyện gì, cũng không lãng phí, cuộc sống gia đình hòa hợp. Cung Huynh Đệ phi Hóa Khoa nhập Cung Nô Bộc Anh chị em có tài năng, ở bên ngoài có thanh danh, thích hợp làm việc trong lãnh vực văn giáo, không giao du bạn xấu, mà có bạn bè quan tâm lẫn nhau. Trong sự nghiệp và công việc, đương số có biểu hiện khá tốt, có nhiều trợ lực, cuộc sống gia đình cũng bình an. Cung Huynh Đệ phi Hóa Khoa nhập Cung Quan Lộc Anh chị em phần nhiều đều có sự nghiệp bình ổn, được nhiều quý nhân giúp đỡ, thích hợp làm việc trong lãnh vực văn giáo và làm công chức. Đương số giỏi đầu tư kiểu có nguy cơ thấp nhất. Anh em và bạn bè có trợ lực cho đương số trong sự nghiệp và công việc. Việc làm thuận lợi, nhậm chức trong công ty khá ổn định. Cung Huynh Đệ phi Hóa Khoa nhập Cung Điền Trạch Anh chị em trong nhà cư xử tốt với nhau, phần lớn thuộc nhóm người đi làm hưởng lương, nghề nghiệp có khuynh hướng làm việc trong văn phòng. Đương số tiêu xài tiền không nhiều, dành dụm hợp lí, sử dụng tiền có kế hoạch, cuộc sống gia đình bình yên thuận lợi, không lãng phí. Cung Huynh Đệ phi Hóa Khoa nhập Cung Phúc Đức Anh chị em tiêu tiền có kế hoạch, tiết kiệm, cách hành sự phần nhiều là làm từng bước vững chắc. Đương số có thói quen dành dụm tiền bạc. Cung Huynh Đệ phi Hóa Khoa nhập Cung Phụ Mẫu Anh chị em phần nhiều đều quan tâm và hiếu thảo với cha mẹ, có thị hiếu thanh nhã, có tài nghệ, tình cảm của cha mẹ rất tốt. Đương số với bạn bè có tình nghĩa qua lại tiền bạc, tiền chi dụng cho cuộc sống bình ổn. Cung Huynh Đệ phi Hóa Kỵ Cung Huynh Đệ phi Hóa Kỵ nhập Cung Mệnh Anh chị em thường bôn ba vất vả, làm ăn không được thuận lợi, phài dựa vào đương số, hoặc đương số không có duyên với anh chị em, ít sum họp. Quan hệ giao tiếp của đương số không được tốt đẹp. Đi xa, ra bên ngoài sẽ gặp nhiều sóng gió, làm nhiều mà hưởng ít, tiền khó tụ, đừng cho ai mượn tiền để kiếm lời, trong cuộc đời rất dê gặp tai ách, kiếp số. Không gian làm việc khó phát huy. Cung Huynh Đệ tự Hóa Kỵ Trong số anh chị em của đương số có thể có người yểu mạng vì mẹ sinh bị lưu sản hoặc vì thể chất tiên thiên của người này quá kém. Trong số anh chị em có người tính tình kì dị, thiếu tự tin, vận trình không thuận lợi, thường gặp thị phi tai ách. Tiền đương số kiếm được thường không giữ được, kiếm được bao nhiêu tiêu xài hết bấy nhiêu, bản thân đương số tiêu xài tiền của mình, tốt nhất là đừng qua lại tiền bạc với bạn bè, dễ chuốc phiền phức. Cơ cấu sự nghiệp, công việc hoặc chỗ làm việc thường có biến động, không ổn định. Nếu giao dịch bất động sản sẽ dễ bị lỗ, hoặc chỗ ở thường là phải thuê. Cung Huynh Đệ phi Hóa Kỵ nhập Cung Phu Thê Duyên hôn nhân của anh chị em phần nhiều đều muộn, hoặc hôn nhân không hạnh phúc. Người phối ngẫu của đương số xử sự không tốt, không trợ lực cho sự nghiệp cùa đương số. Đương số không nên hợp tác hoặc đầu tư, cũng không nên tự sáng lập cơ nghiệp, sự nghiệp nhiều thăng trầm, dễ có nguy cơ. Cung Huynh Đệ phi Hóa Kỵ nhập Cung Tử Tức Vận trình của anh chị em kém, hôn nhân khó hạnh phúc, bôn ba ở bên ngoài rất sớm, sẽ rời quê hương đi xa để tìm hướng phát triển. Dễ vì chuyện phân chia gia sản mà xảy ra tranh chấp, phiền phức, rắc rối. Tiêu tốn nhiều cho sinh hoạt gia đình, đương số phải gánh nợ thấu chi. Đương số nên chú ý vấn đề dạy dỗ con cái. Cung Huynh Đệ phi Hóa Kỵ nhập Cung Tài Bạch Anh chị em phần nhiều đều dễ xảy ra vấn đề tài chính, thậm chí liên lụy đến đương số. Đương số qua lại tiền bạc với bạn bè cũng dễ bị thua thiệt. Đương số có khuynh hướng tiêu xài tiền không ngừng, phải biết tiết chế mới tốt. Tình hình tài chính của sự nghiệp, công ty cũng có thể sẽ gặp nhiều nguy cơ. Cung Huynh Đệ phi Hóa Kỵ nhập Cung Tài Bạch sung Cung Phúc Đức trước khi bị sung là mượn không được tiền, sau khi bị sung thì có thể mượn được tiền. Cung Huynh Đệ phi Hóa Kỵ nhập Cung Tật Ách Anh chị em phần nhiều có cơ thể suy nhược, không hợp ý kiến với cha mẹ, duyên khá bạc, ít gặp nhau. Anh chị em có khuynh hướng dựa vào đương số. Đương số ít gần gũi cha mẹ hoặc cũng có tình trạng không hợp ý kiến với cha mẹ. Đương số kiếm tiền khá vất vả khổ sở, dễ có nguy cơ về tài chính. Nội bộ trong sự nghiệp hoặc ở nơi làm việc công ty… dễ xảy ra vấn đề. Đương số cũng sẽ tiêu tiền nhiều cho việc giữ gìn sức khỏe. Cung Huynh Đệ phi Hóa Kỵ nhập Cung Thiên Di Anh chị em thường đi xa, có thể rời xa gia đình rất sớm để tìm hướng phát triển, không có duyên với đương số, ít gặp nhau thì tốt hơn, nếu không sẽ dễ xảy ra tranh cãi. Hoặc đương số ít anh em, cũng có thể không có anh em. Lúc ở bên ngoài đương số thường tiêu xài nhiều tiền cho việc giao tiếp thù tạc, dễ bị thấu chi, tốt nhất là không nên hợp tác, đừng vay mượn, kiếm được tiền giao cho người phối ngẫu giữ. Sự nghiệp nhiều thăng trầm lớn, không ổn định, đi xa dễ bị bệnh đau, dễ mệt mỏi, ở bên ngoài phải cẩn thận, dễ có tai kiếp lớn. Cung Huynh Đệ phi Hóa Kỵ nhập Cung Nô Bộc Anh chị em là người hướng ngoại, thường đi xa, phần nhiều đều rời xa gia đình, có cách sống riêng, anh em ít qua lại với nhau, ở bên ngoài bôn ba nhiều, dễ có tai kiếp. Cũng có thể đương số không có anh em. Đương số không giữ được tiền, dễ bị tổn thất vì anh em bạn bè, dẫn đến khủng hoảng tài chính, có nguy cơ phải xoay sở tiền bạc, công việc hay sự nghiệp vì vậy mà gặp cảnh khó khăn. Cung Huynh Đệ phi Hóa Kỵ nhập Cung Quan Lộc Duyên hôn nhân của anh chị em phần nhiều không được đẹp, công việc hay sự nghiệp không ổn định, thu nhập cũng không được nhiều, họ cũng không trợ lực cho sự nghiệp của đương số. Công việc hay sự nghiệp của đương số phát triển không thuận lợi, vất vả mà thu nhập ít, đầu tư làm ăn thì khó thu hồi vốn. Cung Huynh Đệ phi Hóa Kỵ nhập Cung Điền Trạch Anh chị em tuy xem trọng quan niệm gia đình, thương yêu gia đình, nhưng thường bôn ba ở bên ngoài, có khuynh hướng thích làm việc trong văn phòng, hoàn cảnh sống của anh chị em lúc còn nhỏ khá chật vật, thường hay gây gổ nhau, không hòa mục. Tiền đương số kiếm được phần nhiều chi dụng trong sinh hoạt gia đình, hoặc mua tậu bất động sản, cho vào két sắt nhập kho. Có thể đương số là người giữ tiền rất nghiêm ngặt, nhưng thường vì tình trạng bất dắc dĩ mà phải chi ra, không dành dụm được. Đương số cần phải chú ý vấn đề dạy dỗ con cái, con cái có thể hư hỏng. Cung Huynh Đệ phi Hóa Kỵ nhập Cung Phúc Đức “Tài khí” của anh chị em không vượng, còn có thể gây lụy đến đương số, trong lòng họ thường thầm lo lắng không yên. Đương số dễ bị tổn thất tiền bạc, hợp tác làm ăn với người khác hoặc sự nghiệp của đương số đều rơi vào tình trạng không phát triển, đầu tư lỗ vốn. Lúc tâm trạng không được tốt, sẽ có hiện tượng tiêu xài tiền loạn xạ. Cung Huynh Đệ phi Hóa Kỵ nhập Cung Phúc Đức xung Cung Tài Bạch là ý tượng mượn không được tiền, khó mượn tiền bạn bè để xoay sở. Cung Huynh Đệ phi Hóa Kỵ nhập Cung Phụ Mẫu Sức khỏe của anh chị em phần nhiều đều không được tốt, có thể có người yểu mạng, có sự ngăn cách với cha mẹ, sau khi lập gia đình có thể vẫn ở chung với cha mẹ, hay oán trách cha mẹ, ý kiến ít hợp nhau. Thu nhập của đương số không được ổn định, công việc hay sự nghiệp dễ có nguy cơ. Đương số qua lại tiền bạc với bạn bè sẽ không được như ý, lúc muốn mượn tiền của bạn bè để xoay sở sẽ không được, mà cho bạn bè mượn tiền thì khó đòi. Ảnh hưởng của các sao Phụ Tinh đến Huynh Đệ Cung Lộc Tồn Cung Huynh Đệ Lộc tồn nên ở cung vượng, không gặp Tứ Sát, Địa Không, Địa Kiếp. Chủ về trong anh chị em có người quý hiển. Nếu có Trường Sinh đồng độ thì có duyên tốt với anh chị em. Có Thiên Mã hội hợp thì trong anh chị em có người phát đạt ở nơi khác. Thiên Mã Thiên Mã có sao phụ tá cát hội hợp, anh chị em tuy ở tứ tán nhưng có giúp đỡ lẫn nhau. Nếu các sao cát và hung cùng tụ hội thì chủ về có anh em khác mẹ, hoặc anh chị em chia thành hai phe. Sao cát mà hữu lực, thì chỉ chủ về có một số thì xa cách, một số thì thường qua lại với nhau. Tả Phù Tả Phù gặp cát tinh. Thì chủ về được anh em trợ giúp. Nếu gặp Tứ Sát, Hình,Kị thì chủ về bị anh chị em làm liên lụy. Tả Phù gặp Địa Không, Địa Kiếp, lại gặp các sao Sát, Kỵ. Chủ về tình cảm vổh tốt đẹp nhưng bỗng nhiên xảy ra thay đổi. Hoặc anh chị em gặp tai nạn bất ngờ. Hữu Bật Hữu Bật gặp “Vũ Khúc, Thất Sát”, gặp thêm sát tinh. Chủ về có hình khắc. Nếu Cung Phụ Mẫu gặp các sao đào hoa. Thì chủ về anh em khác mẹ. Hữu Bật gặp Địa Không, Địa Kiếp, Hóa Kỵ, nhiều sát tinh thì không có anh em. Văn Xương Văn Xương gặp Thiên Phủ, Tả Phù, Hữu Bật thì được anh chị em giúp đỡ. Văn Xương gặp Kình Dương, Đà La thì giữa anh chị em có sự tranh chấp. Văn Xương ở hãm địa gặp Địa Không, Địa Kiếp, Hóa Kỵ, thì ít anh chị em, mà còn bất hòa. Văn Khúc Văn Khúc gặp Thất Sát, lại gặp thêm sát tinh thì anh chị em bất hòa. Văn Khúc ở hãm địa, gặp Địa Không, Địa Kiếp thì ít anh em, mà còn có điều tiếng thị phi. Nếu có Kình Dương, Thiên Hình hội hợp. Chủ về tranh chấp, kiện tụng. Thiên Khôi Cung Huynh Đệ Chủ về quý mà không chủ về giàu có. Gặp các sao cát. Chủ về anh em nâng đỡ ủng hộ nhau. Sao Thiên Việt Cung Huynh Đệ Giống Thiên Khôi, nhưng lực đề kháng sát tinh không bằng Thiên Khôi. Hỏa Tinh, Linh Tinh Không ưa gặp Liêm Trinh, Thất Sát, Phá Quân. Chủ về ít anh em. Nếu gặp Địa Không, Địa Kiếp, Hóa Kỵ thì có hình khắc. Gặp Tham Lang thì chủ về anh chị em có tiền của bất ngờ. Nếu gặp thêm Hóa Kỵ, Đại Hao, sát tinh, thì không phải. Kình Dương Gặp Hóa Kỵ, Thiên Hình chủ về tranh chấp, kiện tụng. Gặp Thiên Lương thì càng đúng. Gặp Địa Không, Địa Kiếp, Đại Hao, Hỏa Tinh, Linh Tinh, trong anh chị em có thể có người thất bại, không nên hợp tác làm ăn. Sao Đà La ở Cung Huynh Đệ Chủ về anh chị em ít qua lại, nhưng không bất hòa. Gặp Thiên Mã. Chủ về anh chị em rời xa quê hương. Địa Không Chủ về có anh em khác mẹ, hoặc cũng chủ về anh em ở xa nhau. Gặp thêm sát tinh thì trong anh chị em có người có ý xấu với đương số. Địa Kiếp Cung Huynh Đệ Chủ về anh em khác mẹ hoặc ở xa nhau. Địa Không và Địa Kiếp giáp Cung Huynh Đệ, bất lợi về anh em. Địa Không và Địa Kiếp giáp Liêm Trinh Hóa Kỵ. Chủ về trong anh em có chuyện thương tâm. Thay lời kết Tóm lại, Cung huynh đệ dùng luận đoán tình cảm anh em trong nhà, bạn bè ngoài đời. Và đặc biệt là dự đoán mối quan hệ giữa đương số và đồng nghiệp trong chốn quan trường. Dĩ nhiên, khi xét đoán Cung Huynh Đệ, tuyệt đối không thể bỏ qua các yếu tố từ tam phương tứ chính. Bạn đọc cần cân nhắc cẩn thận trước mỗi lời luận đoán… Cung Huynh Đệ Triệt Tuần làm thủ Chim đầu đàn vỗ cánh bay cao. Kiếp Không hai gã nên ngừa Lâm vào Huynh Đệ đơn sơ một mình. Phá phùng Hình kỵ Huynh hương Anh em bất thuận nhiều đường tương tranh. Tướng Quân Lộc Mã đồng cung Anh em có kẻ triều trung quí quyền. Tử Tang Tả Hữu cùng ngôi Có chị em gái duyên ôi chẳng lành. Tang Môn ngộ Mã đinh ninh Mỗi người mỗi xứ gia đình quạnh hiu. Đào Hoa, Thai, Hỷ trong cung Phá Quân, Tướng, Phục chiếm xung ở ngoài. Có chị em gái theo trai Say mê đến nỗi hoang thai bỏ mình. Trong thời Tướng Phủ, Phục Binh Ngoài thì Hoa Cái liên minh Đào Hồng Bản cung đối chiếu tinh tường Anh em có kẻ tư thông hẳn là. Gặp sao Hoá Kỵ khiếm hoà Thiên Hình xung khắc trong nhà ghét nhau. Tử Vi, Tả Hữu lâm vào Có chị em gái say màu phấn son. Bào cung Tử Phủ ở Thìn Họ hàng có kẻ tìm phương lộn chồng Đăng nhập Cung không có Chính Tinh nào tọa thủ gọi là cung Vô Chính Diệu VCD Trong Tử Vi có tổng cộng 14 sao Chính Tinh và 12 Cung Thiên Bàn. 14 Sao Chính Tinh nằm rải rác ở 12 cung. Trong đó có nhiều cung có 2 chính tinh. Vậy nên sẽ có không có sao chính tinh nào. Cung không có Chính Tinh nào tọa thủ gọi là cung Vô Chính Diệu VCD, Có là số có một cung vô chính diệu và cũng có lá số có nhiều cung vô chính diệu. Từ đây ta cũng có thể dự đoán một phần ý nghĩa của các cung vô chính diệu này. Bài viết này sẽ giúp bạn củng cố thêm kiến thức này. 12 Cung Vô Chính Diệu Trên Lá Số Tử Vi Theo nguyên lý luận giải lá số tử vi thì bất kể cung nào Vô Chính Diệu VCD thì đều lấy chính tinh ở cung đối diện về để luận, bao gồm cả cung mệnh và các cung khác. Như vậy kể cả Đại Vận, Tiểu Vận, Tiểu Hạn đi đến cung Vô Chính Diệu cũng lấy chính tinh từ cung đối diện về để luận. Sở di phải lấy chính tinh từ cung đối xứng về luận là vì các cung tam hợp không nằm trong trục đối xứng xung khắc về ngũ hành nên tính chất không đủ mạnh. Chỉ có cung đối xứng mới đủ tác động đủ mạnh về bản cung mà thôi. Đương nhiên theo Tam Hợp Phái thì tất cả các cung đều ảnh hưởng các sao tại bản cung đó, các sao từ tam hợp cung chiếu về và các Sao từ cung đối diện chiếu vê. Vì thế người luận cũng cần có kiến thức và kinh nghiệm để luận đoán. Có thể nói cung vô chính diệu khá hay, có thể hút được được các năng lượng từ các cung xung chiếu và cung tam hợp, dù cho cung này có Tuần – Triệt hay không. Các cung vô chính diệu có thể nói là như nhà không có Nóc, không có người bảo vệ, vì thế nó được coi là các cung Yếu, rất cần các Hung tinh đắc địa trấn giữ. Các Sao trong cung vô chính diệu có thể nói là không có người cầm đầu chỉ đạo, vì thế nó có tính chất tự do, không có định hướng, khi gặp vận hạn có các chính tinh xung chiếu thì đương nhiên các sao này chính là định hướng của cung này. Ngoài ra chúng ta có cách cục Cung Vô Chính Diệu có Tuần – Triệt hoặc không có Tuần – Triệt. Lúc này cần xác định đến tính vượng suy của vòng tràng sinh, tính Âm Dương của bản thân đương số. Ngoài ra cũng có trường hợp Cung Vô Chính Diệu có Tuần Hoặc Triệt, cung đối xứng cũng có Tuần Hoặc Triệt và Ngược lại. Và trường hợp Tuần Triệt tự tháo gỡ nhau như thế nào. Vấn đề này rất phức tạp và gây khó khăn khi luận giải lá số tử vi. Vậy nên trong bài viết này tác giả khái quát một vài ý nghĩa về 12 cung vô chính diệu để mọi người làm quen với bộ môn này. Thế nào gọi là cung vô chính diệu? Cung Vô Chính Diệu là cung không có chính tinh tọa thủ. Cung nào không có chính tinh tọa thủ thì cung đó gọi là cung Vô Chính Diệu, chẳng hạn Mệnh Vô Chính Diệu, Bào Vô Chính Diệu, Quan Vô Chính Diệu, Điền Vô Chính Diệu… Khi luận giải, thường áp dụng Lấy chính tinh tọa thủ của cung xung chiếu làm chính tinh tọa thủ cho cung vô chính diệu nhưng dù có được chính tinh sáng sủa xung chiếu, được Tuần Triệt án ngữ thì cũng chỉ đưa đến sự tốt đẹp cho cung vô chính diệu ở mức 7 hoặc 8 phần, chứ không thể rực rỡ cả 10 phần như có chính tinh sáng sủa tọa thủ được. Tuy nhiên, nếu rơi vào 3 trường hợp dưới đây thì không áp dụng theo thông lệ Vô Chính Diệu có hung tinh đắc địa độc thủ Trường hợp này hung tinh đắc địa phải là hành Hỏa hoặc hành Kim, hợp với hành bản Mệnh và không bị Tuần Triệt án ngữ, mới được hưởng thế đẹp của hung tinh đó đem đến. Chỉ khi nào rơi vào hai trường hợp Được Nhật Nguyệt xung chiếu hoặc tam hợp chiếu Nhật Mão, Nguyệt Mùi thì mới sử dụng bộ Nhật Nguyệt làm nòng cốt, còn các trường hợp khác dù có Nhật Nguyệt chiếu cũng lấy chính tinh xung chiếu làm chính tinh tọa thủ. Vô Chính Diệu Đắc Tam Không Chỉ khi nào vô chính diệu có Tuần hoặc Triệt thủ, được 2 trong 3 sao là Tuần, Triệt, Thiên Không chiếu thì mới là cách Vô Chính Diệu Đắc Tam Không. Với cách này mệnh Hỏa đẹp hơn Mệnh Kim, các Mệnh khác tuy không giàu có nhưng cuộc sống không đến nỗi xấu, cũng được tạm đủ hoặc kha khá. Trường hợp này, nếu có hung tinh tọa thủ dù lạc hãm cũng chỉ làm xấu một chút, không đáng lo ngại lắm về họa của sao này gây ra. Những điểm cần lưu ý với cung vô chính diệu – Ngoại trừ trường hợp cung Vô Chính Diệu có hung tinh đắc địa độc thủ thì không nên có Tuần, Triệt án ngữ, còn các trường hợp khác của cung Vô Chính Diệu đều rất cần có Tuần hoặc Triệt án ngữ. Nếu không có Tuần, Triệt án ngữ thì ảnh hưởng của chính tinh xung chiếu yếu đi, và dù có nhiều sao sáng sủa hội chiếu thì sự tốt đẹp cũng chỉ ở mức độ trung bình khá. Khi cung Vô Chính Diệu có Tuần hoặc Triệt án ngữ thì ban đầu tuy có gặp khó khăn, trở ngại nhưng về sau lại thuận lợi, tốt đẹp. Tuần Triệt ở đây còn có tác dụng ngăn trở các sao xấu chiếu về cung Vô Chính Diệu, và giải cứu được trường hợp “phi yểu tắc bần” nếu Mệnh Vô Chính Diệu. – Vô Chính Diệu được Tuần án ngữ tốt đẹp hơn được Triệt án ngữ. Nếu Tuần Triệt án ngữ đồng cung thì cung Vô Chính Diệu này chỉ ở mức độ trung bình, không tốt cũng không xấu. Trường hợp này không cần quá chú trọng đến các sao hội chiếu vì ảnh hưởng của các sao này không nhiều vì Tuần đã ngăn các sao tốt chiếu về, còn Triệt thì ngăn cản các hung tinh chiếu tới trong khi các sao tại bản cung thì bị cả Tuần lẫn Triệt vây trảm. – Chỉ khi nào ở Tứ Mộ thì cung Vô Chính Diệu mới được hưởng những cách hay của các sao tam hợp chiếu. Còn tại các cung khác, cung Vô Chính Diệu chỉ chịu ảnh hưởng của các sao trực chiếu. Đặc biệt, tại Tứ Mộ thì Vô Chính Diệu rất cần Tuần Triệt án ngữ. – Trường hợp vô chính diệu được 3 sao Tuần, Triệt, Thiên Không hợp chiếu mà không có Tuần, Triệt án ngữ thì là cách Kiến Không. – Trường hợp vô chính diệu được 3 sao Tuần, Triệt và Địa Không hợp chiếu thì không tính là cách đắc tam không. – “Trường hợp cung vô chính diệu có Tuần – Triệt thì cũng không sử dụng được các sao xung chiếu cũng như tam hợp như khi cung Vô chính diệu không có Tuần – Triệt mà phải căn cứ vào trạng thái vượng suy của cung theo vòng Trường sinh và chỉ sử dụng các sao tại bản cung để xét đoán cho đến khi nhập vận có chính tinh.” theo TỬ VI CHÂN TRUYỀN – Trường hợp vô chính diệu mà không có Tuần, Triệt án ngữ, lại có sao Thiên Không thủ là cách ngộ Không, là người quyền biến khôn ngoan nhưng cuộc đời thăng trầm cực khổ. Nếu gặp thêm các sao Không khác hội chiếu thì càng xấu, cuộc đời hoặc thăng trầm cực khổ hoặc sẽ bị chết yểu. Nếu lại có hung tinh lạc hãm, khác với hành của bản Mệnh tọa thủ thì càng nguy hiểm hơn. – “Trường hợp Mệnh hoặc Cung vô chính diệu có Tuần Triệt và cung đối xứng có Triệt Tuần thì khi đại vận chưa nhập vào cung Vô chính diệu thì vẫn chỉ sử dụng các sao tại bản cung để luận cho đến khi vận nhập vào cung Vô chính diệu thì cách luận như đối với trường hợp Tuần – Triệt tháo gỡ nhau.” theo TỬ VI CHÂN TRUYỀN Khái Quát về 12 cung vô chính diệu Ở phần trên, người viết đã khái quát những nét chung của cung vô chính diệu để bạn đọc lưu ý khi coi số. Ở phần này, người viết trình bày khái quát về các 12 cung vô chính diệu để bạn đọc khi lướt qua lá số, có thể “nhìn thấy” được “vấn đề” nằm ở đâu trên 12 cung của lá số mà đưa ra vài lời nhận xét khái quát về cung đó. Đánh giá về sự tốt xấu của các cung vô chính diệu thì tùy từng trường hợp mà luận giải, nhưng cơ bản cũng dựa vào cách đánh giá cung vô chính diệu như đã trình bày ở phần trên. Khi luận giải, sự gia giảm mức độ tốt xấu phải dựa trên bối cảnh Mệnh – Thân – Phúc – Hạn và các sao khác thủ chiếu tại cung vô chính diệu đó để gia giảm mức độ tốt xấu. 1. Cung Mệnh Vô Chính Diệu Mấy lưu ý về người Mệnh Vô Chính Diệu – Lúc còn nhỏ thường vất vả, lận đận, hoặc hay đau yếu, khó nuôi. Lớn lên, giảm thiểu được bệnh tật, tai họa do nhạy bén hoặc linh cảm được được sự việc sắp xảy ra. Nếu là con trưởng thì không sống gần cha mẹ, nếu gần cha mẹ thì dễ chết non hoặc nghèo hèn. – Thường là con vợ hai, vợ lẽ hoặc nàng hầu. Điều này người viết thấy không mấy đúng nhưng vì sách Tử Vi nói vậy nên cứ liệt kê. – Cuộc sống trôi nổi, cho dù đắc cách thì cũng hoặc phú quý chỉ một thời, hoặc đáng hưởng phú quí thì lại chết. – Làm phụ tá thì bền, làm trưởng thì không bền. Vì thế, nên hoạt động trong bóng tối hoặc ẩn danh là tốt nhất. – Không có lập trường vững vàng, tư tưởng không ổn định trừ một số trường hợp đặc biệt đã nêu ở phần A nhưng dễ thích ứng với hoàn cảnh. – Nữ Mệnh Vô Chính Diệu thì đỡ xấu hơn Nam Mệnh Vô Chính Diệu – Mệnh Vô Chính Diệu thì cần Hỏa mệnh và Kim mệnh vì Mệnh Vô Chính Diệu như nhà không nóc, cần bản mệnh có hành khí mạnh mẽ cứng cỏi làm nồng cốt. Các mệnh khác như Thổ, Thủy, Mộc thì không tốt. – Mệnh Vô Chính Diệu Đắc Tam Không thì khi đương số sinh ra, bố mẹ thường hoặc sẽ phát đạt hoặc bị khủng hoảng, tai nạn trong một thời gian. Và cuộc đời đương số bao giờ cũng có sự thay đổi bất ngờ. – Mệnh Vô Chính Diệu có hung tinh độc thủ thì cần đồng hành với bản Mệnh mới là thật tốt. – Mệnh Vô Chính Diệu mà không có Tuần, Triệt án ngữ, lại có sao Thiên Không thủ, gọi là cách ngộ Không, là người quyền biến khôn ngoan nhưng cuộc đời thăng trầm cực khổ. Nếu thêm các sao Không khác hội chiếu thì càng xấu, cuộc đời hoặc thăng trầm cực khổ hoặc sẽ bị chết yểu. Nếu lại có hung tinh lạc hãm, khác với hành của bản Mệnh tọa thủ thì càng nguy hiểm hơn. – Mệnh Vô Chính Diệu có tam không Thiên không, Địa không, Địa kiếp, được nhiều cát tinh hội họp, lại có các vận liên tiếp tốt đẹp thì đương số thường được sung sướng từ bé nhưng dễ bị yểu tử. – Mệnh Vô Chính Diệu nếu có sao Thiên Tướng, Tướng Quân… đóng mà gặp Tuần Triệt án ngữ thì dễ đưa đến tai họa bất ngờ cho đương số. – Mệnh vô chính diệu mà cung Tử cũng vô chính diệu thì cả đời không con hoặc khổ về vấn đề con cái. 2. Cung Phụ Mẫu Vô Chính Diệu Phụ Mẫu vô chính diệu thì đương số thường phải ly hương lập nghiệp, không được hưởng di sản của cha mẹ; cha mẹ thọ nhưng không giúp đỡ được con cái bao nhiêu, hoặc con cái không báo hiếu được cha mẹ nhiều. Nếu gặp Tuần hoặc Triệt án ngữ thì cha mẹ tuy được tốt hơn nhưng đương số dễ khắc cha hoặc khắc mẹ, hoặc đương số phải sớm xa cách cha mẹ, như xa quê vì mưu sinh hay đến làm con nuôi người khác. Dù cung Phụ – Mẫu vô chính diệu có được nhiều cát tinh hội họp thì đương số cũng nên sớm xa gia đình, tốt nhất là xuất ngoại thì hậu vận mới mong có thể có công danh được. 3. Cung Phúc Đức Vô Chính Diệu Phúc vô chính diệu thì đương số thường phải xa cách họ hàng hoặc không được sống gần người thân, ruột thịt. Nếu được chính tinh sáng sủa xung chiếu và cát tinh hội họp thì chắc chắn đương số sẽ được hưởng phúc, sống lâu và may mắn. Nếu Phúc cung vô chính diệu đắc tam không tất sẽ được hưởng phúc lộc dồi dào. Tuy nhiên, chỉ những người Mệnh Kim, Mệnh Hỏa mới được hưởng hết những ưu điểm của cách này, kỳ dư các Mệnh khác, được hưởng không nhiều. Nếu Hung Tinh đắc địa độc thủ thì đương số cũng được hưởng phúc lộc nhưng chỉ trong một giai đoạn mà thôi. Tại Dần Thân nếu gặp Đà La độc thủ thì thường hưởng phúc, sống lâu. Nếu Phúc vô chính diệu được Nhật Nguyệt sáng sủa hợp chiếu thì rất tốt, đương số được hưởng phúc, sống lâu, được nhờ cậy họ hàng. Trường hợp này, nếu gặp Tuần Triệt án ngữ thì số mệnh của đương số càng tốt đẹp ở nhiều phương diện. Phúc vô chính diệu rất cần gặp Tuần, không nên gặp Triệt. Nếu gặp Tuần thì hưởng phúc, sống lâu, gặp Triệt thì họ hàng khá giả nhưng không bền cho dù được nhiều sao tốt hội chiếu, còn bản thân dễ phải ly hương lập nghiệp, xa cách người thân. 4. Cung Điền Trạch Vô Chính Diệu Điền vô chính diệu thường là người không được hưởng di sản của cha ông để lại, phải tự tay tạo lập điền sản nhưng phải sau 40 tuổi mới hy vọng có chút tài sản của riêng mình. Người có cung Điền vô chính diệu thường hay thay đổi chỗ ở, điền sản, cuộc đời cũng thăng trầm bất định, khi lên khi xuống, nhà đất khó giữ, cho dù có sao giữ của như Quả Tú. Có quan điểm cho rằng Điền vô chính diệu là khi đương số ra đời, kinh tế của bố mẹ đang gặp cảnh khó khăn, sau đó mới giàu có dần. Nếu gặp Tuần Triệt án ngữ hoặc Tuần, Triệt đồng cung thì buổi đầu tuy gặp trắc trở trong việc tạo dựng điền sản, như thường phải thay đổi chỗ ở, mua rồi lại phải bán đi, thành bại thất thường… nhưng sau dễ dàng thuận lợi. Tuy vậy, về già mới được ổn định nhưng nhà đất chỉ ở mức trung bình. Nếu cung Điền vô chính diệu đắc tam không thì điền sản tuy khá nhưng cũng không bền. Nếu được Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì trước trắc trở nhưng càng về sau càng thuận lợi, nhiều nhà đất, điền sản. Trường hợp này nếu được Tuần Triệt án ngữ sẽ càng tốt hơn, đương số sẽ rất giàu có và có rất nhiều nhà đất. Nếu Hung sát tinh độc thủ thì tài sản tạo nên bất ngờ nhanh chóng, nhưng cũng suy bại khá nhanh, đặc biệt là Hỏa Linh Không Kiếp. Còn Kình Đà độc thủ thì tuy hoạnh phát hoạnh phá nhưng sau cùng vẫn được khá giả. 5. Cung Quan Lộc Vô Chính Diệu Quan Lộc vô chính diệu thì đương số thường không bền chí, nghề nghiệp cũng hay thay đổi, công danh thấp, bình thường, hoặc có công danh nhưng không bền. Nếu không rơi vào những trường hợp đặc biệt thì dù được các sao sáng sủa hội họp nhưng đường quan lộc cũng không hiển đạt. Nếu Quan Lộc vô chính diệu, có hung tinh độc thủ thì hoạch phát công danh nhưng cũng không được bền. Nếu được Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì công danh tuy chậm nhưng cũng tạm khá, đương số thường hoạt động trên lĩnh vực chính trị hoặc kinh tế. Trường hợp này nếu được Tuần hoặc Triệt án ngữ sẽ làm tăng vẻ tốt đẹp của công danh, càng về sau công danh càng tốt tuy ban đầu có gặp trắc trở. Cũng cần lưu ý rằng gặp Tuần thì công danh tuy buổi đầu có trắc trở nhưng sau vẫn sáng lạn còn gặp Triệt thì chỉ khá hơn chút chút và công danh không bền. Trường hợp có Tuần Triệt án ngữ và được nhiều sao sáng sủa hội chiếu thì công danh cũng trước bị trở ngại, sau tuy khá nhưng sự nghiệp cũng không bền, thường hoạnh phát hoạnh phá. Nếu Tuần Triệt án ngữ đồng cũng thì công danh chỉ ở mức bình thường cho dù có được các yếu tố khác như Mệnh Thân Phúc Hạn… tốt 6. Cung Nô Bộc Vô Chính Diệu Nô Bộc vô chính diệu thì bạn bè và người giúp việc tôi tớ không bền, dễ ly tán. Nếu gặp Tuần hoặc Triệt án ngữ thì tốt hơn, tôi tớ đắc lực hơn, lúc trước mướn người khó khăn nhưng sau thì dễ hơn nhưng tôi tớ cũng không bền. Nếu Nô cung vô chính diệu, được Hung sát tinh độc thủ thì tôi tớ rất đắc lực nhưng thường hay lấn át chủ. Đương số có nhiều bạn bè tài giỏi, làm ăn táo bạo, nhưng thường nằm trong giới giang hồ, xã hội đen. Nếu được Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì thật tốt đẹp Người giúp việc đắc lực, trung thành và có nhiều bạn bè khá giả, tận tâm giúp đỡ đương số. 7. Cung Thiên Di Vô Chính Diệu Thiên Di vô chính diệu thì nhìn chung sẽ không thể giàu có lớn được, cho dù có nhiều sao sáng sủa hợp chiếu. Ra ngoài dễ bị chi phối tiêu cực bởi môi trường, ngoại cảnh. Nếu được Tuần Triệt án ngữ thì cuộc sống sẽ tốt hơn nhưng lại dễ chết xa nhà. Nếu Hung sát tinh độc thủ thì ra ngoài dễ kiếm tiền, thường kiếm được tiền một cách bất ngờ, nhưng lại hao hụt nhanh chóng, kiểu hoạnh phát hoạnh phá vậy. Nếu được Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì khá tốt đẹp, đương số sẽ gặp nhiều may mắn, thuận lợi khi ra ngoài. Trường hợp này, nếu được Tuần, Triệt án ngữ nhất là Tuần thì sự may mắn, thuận lợi tăng lên nhiều. 8. Cung Tật Ách Vô Chính Diệu Cung Tật Ách vô chính diệu thì chắc chắn đương số là người khỏe mạnh, ít bệnh tật tai họa nhưng khi tai họa đến thì khó tránh khỏi, phải gánh chịu hậu quả xấu. Nhưng nếu được Tuần Triệt án ngữ thì thật tốt, đương số sẽ ít bệnh tật, tai họa. 9. Cung Tài Bạch Vô Chính Diệu Tài Bạch vô chính diệu thì tiền tài không đều đặn, lúc có lúc không, nếu có tiền của thì cũng không tụ được lâu, tụ tán thất thường. Cho dù có được nhiều sao sáng sủa hội họp, lại lấy chính tinh xung chiếu đắc địa làm tọa thủ thì cũng không thể giàu có lớn được. Nếu Tuần Triệt án ngữ thì đương số may mắn hơn trong việc kiến tạo tiền bạc cho mình. Trường hợp này, nếu được nhiều sao tốt đẹp hội chiếu thì ban đầu kiếm tiền thường khó khăn, sau mới thuận lợi nhưng cũng không thể giàu có được. Nếu có hung tinh đắc địa độc thủ thì sẽ hoạnh phát nhưng thường hoạnh phá, không bền, chỉ giàu có một giai đoạn. Nếu được Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì thật tốt đẹp, may mắn về tiền bạc, nhất là càng về già càng nhiều tiền của. Trường hợp này, nếu được thêm Tuần, Triệt án ngữ, đặc biệt là Tuần, thì đương số sẽ thêm nhiều may mắn, thuận lợi trong việc kiếm tiền và chắc chắn là người giàu có lớn. 10. Cung Tử Tức Vô Chính Diệu Tử Tức vô chính diệu thì thường không có con, ít con, hoặc chậm con, hoặc không nhờ cậy được con, hoặc con đầu lòng sinh ra khó nuôi. Nhưng nếu có Tuần, Triệt án ngữ thì đương số thường chậm có con hoặc sinh con ban đầu khó nuôi nhưng sau này con cái rất khá giả. Nếu Hung tinh đắc địa độc thủ thì con cái khá giả nhưng khó nuôi con hoặc muộn sinh con, hoặc con cái không hợp với cha mẹ. Nếu Tử Tức vô chính diệu, được Nhật Nguyệt sáng sủa hợp chiếu thì đương số sẽ thuận lợi, may mắn về đường con cái và con cái sau này khá giả, quí hiển. Trường hợp này nếu được thêm Tuần, Triệt án ngữ, nhất là Tuần, thì sự may mắn về đường con cái của đương số sẽ tăng thêm nhiều. Nếu Tử Tức vô chính diệu mà Mệnh lại vô chính diệu nữa thì chắc chắn đương số cả đời vất vả về đường con cái, rất dễ rơi vào khả năng tuyệt tự, không có con. 11. Cung Phu Thê Vô Chính Diệu Phu Thê vô chính diệu thì thường chậm lập gia đình, hoặc không yêu ai mặn nồng, chóng yêu chóng chán, không có xu hướng lập gia đình mạnh mẽ và thường lập gia đình một cách bất ngờ. Nên muộn lập gia đình để tránh bị hình, chia ly. Nếu gặp Tuần Triệt án ngữ thì buổi đầu tuy khó khăn, trắc trở nhưng sau được tốt hơn, tuy vậy cũng nên lập gia đình trễ, không nên lập gia đình sớm. Gặp Tuần tốt hơn gặp Triệt. Người Hỏa Mệnh, nếu được Đắc Tam Không thì rất tốt, vợ chồng may mắn, hòa thuận. Nếu Hung Sát tinh độc thủ thì vợ chồng tuy đều giỏi giang nhưng không hòa thuận, dễ hình khắc hoặc chia ly. Nếu được Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì vợ chồng tốt đẹp, hòa thuận. 12. Cung Huynh Đệ Vô Chính Diệu Huynh Đệ vô chính diệu thì thường không được nhờ cậy anh chị em, hoặc anh chị em ly tán, không ở gần anh chị em. Nếu được Tuần Triệt án ngữ thì tốt lên, nhưng anh hoặc chị trưởng thường chết sớm. Trường hợp này, anh chị em lúc tiền vận thường long đong nhưng về hậu vận sẽ khá giả. Nếu được Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì anh chị em thương yêu nhau, giúp đỡ nhau. Trường hợp này có thêm Tuần Triệt án ngữ thì càng tốt, anh chị em thuận hòa, quý hiển. Lời Kết Để đơn giản và hiệu quả việc tự học, tự áp dụng kiến thức khoa Tử Vi vào luận giải lá số và ứng dụng vào cuộc sống, người viết đã cố viết thật đơn giản, thật dễ hiểu, thật ngắn gọn nhưng rõ nghĩa, đủ nghĩa những điểm cơ bản, những lưu ý cần cẩn trọng với bạn đọc về 12 cung vô chính diệu trên lá số. Hy vọng, những cố gắng của người viết sẽ ít nhiều giúp ích cho bạn đọc trong việc tự học, tự áp dụng kiến thức khoa Tử Vi vào cuộc sống! Ít anh chị em, cứng rắn không hòa hợp hay tranh chấp, ít giúp đỡ. Miếu vượng địa thì hiền lương được giúp đỡ. Lạc hãm thì ít anh chị em. Thiên Phủ đồng cung, anh chị em giàu có, thiếu hòa khí. Tham Lang đồng cung, huynh đệ duyên bạc, mỗi người một phương. Thiên Tướng đồng cung, phú quý, được giúp đỡ nhưng thiếu hòa khí. Đồng cung với Thất Sát, anh chị em tính tình bạo ngược kì quái, hoặc bệnh tật, không hòa thuận, xung đột về tiền bạc. Phá Quân đồng cung thì ít anh chị em, không được giúp đỡ. Hội cát tinh thì được trợ giúp. Hội tứ sát Kiếp Không thì anh chị em khắc nhau, làm hại nhau, thậm chí không có anh chị em. Người có mệnh Vô Chính Diệu thì lúc còn nhỏ vất vả, ốm đau, vất vả. Khi lớn lên người yếu, dễ ốm vặt, người xanh xao. Thường hay mắc bệnh dị ứng hoặc trong đời có lần mắc bệnh dị ứng. Nếu là con trưởng thì không sống gần cha mẹ, nên làm còn nuôi họ khác. Nếu gần cha mẹ thì kinh tế cha mẹ kém đi hoặc gia đình trục trặc. Người mệnh này sớm xa nhà, mưu sinh nơi đất khách quê người. Lập nghiệp xa nhà sẽ tốt hơn. Đang xem Cung thân vô chính diệu Mệnh này thuộc khối hỗ trợ, làm phó thì bền, làm trưởng thì không bền, không thể đứng mũi chịu sào, hoạt động trong bóng tối hoặc ẩn danh là hay nhất. Mệnh không có chính tinh tọa thủ thì Mưu sự cho người thì dễ, mà cho chính bản thân mình thì khó. Họ có khả năng dự thảo kế hoạch nhưng chỉ thuận lợi khi họ làm cho người khác. Còn đối với bản thân họ thì lại trái ngược. Họ thường khó đạt được những gì mà họ dự tính cho chính mình. Đối với Mệnh Vô Chính Diệu gặp Tuần Triệt Nếu mệnh VCD mà gặp Tuần triệt thì hầu như không có các tính chất trên. Tuy ít ốm vặt nhưng dễ bị ốm một trận lớn nguy hại đến tính mạng. Khi luận giải ta lấy chính tinh xung chiếu với Tuần Triệt án ngữ tại cung để luận giải. Tuy nhiên mức độ ứng hợp chỉ khoảng 60-70%. Khi có Tuần Triệt án ngữ, ban đầu mệnh tuy gặp khó khăn trở ngại nhưng về sau lại thuận lợi, tốt đẹp hơn. Tuần Triệt ở đây còn có tác dụng ngăn trở các sao xấu, nếu có, chiếu về cung Vô Chính Diệu, và giải cứu được trường hợp phi yểu tác bần. Mênh vô chính diệu đẹp nhất là cách Nhật Nguyệt chiếu hư không. Trường này có đủ bộ Âm Dương sáng sủa tại Mão và Hợi chiếu. Âm Dương đồng cung Sửu Mùi không đẹp bằng vì Nhật Nguyệt 1 sáng 1 tối. Không lấy các chính tinh xung chiếu bởi vì quy luật của Nhật Nguyệt là chiếu đẹp hơn tọa thủ. Mệnh an tại Mùi có Thái Dương ở Mão Mặt trời lúc bình minh và Thái Âm ở Hợi mặt trăng vằng vặc lúc nửa đêm. Cả hai cùng hợp chiếu về Mệnh. Đây là cách “Nhật Nguyệt Tịnh Minh tá cửu trùng ư kim diện”. Người đắc cách này luôn luôn kề cận bên cửu trùng, quyền uy chỉ thua một đấng quân vương. Giải mã 12 cung Vô chính diệu trong Tử Vi Phụ Mẫu Vô Chính Diệu Phải tự tay tạo lập cuộc sống, không được hưởng di sản của cha mẹ, thường phải xa cách cha mẹ, ly hương lập nghiệp. Gặp Tuần hoặc Triệt án ngữ thì phụ mẫu tốt hơn nhưng lại dễ khắc cha mẹ, hoặc phải sớm xa cách cha mẹ, hoặc làm con nuôi người khác. Nên sớm xa gia đình, xuất ngoại thì mới có thể có công danh. Phúc Đức Vô Chính Diệu Thường phải xa cách họ hàng hoặc anh em. Phúc rất kỵ Tuần Triệt nên dù Phúc vô chính diệu gặp Tuần Triệt thường không được hưởng phúc, dòng họ ly tán. Thân tâm vất vả, tự mình làm nên, không được sự hỗ trợ của dòng tộc, phải ly hương lập nghiệp, xa cách họ hàng người thân. Điền Trạch Vô Chính Diệu Điền sản thường rất chậm có và hay thay đổi, lên xuống, không bền. Gặp Tuần Triệt án ngữ thì trước trắc trở, sau mới dễ dàng thuận lợi. Thường hay thay đổi chỗ ở, nhà đất mua rồi lại bán, thành bại thất thường, về già mới ổn định nhưng nhà đất trung bình. Gặp Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì trước trắc trở nhưng càng về sau càng thuận lợi, rất nhiều nhà đất về sau. Quan Lộc Vô Chính Diệu Người mà cung Quan Lộc không có chính tinh tọa thủ thì nghề nghiệp thường thay đổi, hoặc chậm có công danh, công danh thấp hoặc bình thường, hoặc không bền. Trường hợp có Tuần Triệt án ngữ thì công danh trước bị trở ngại, sau tuy khá nhưng không bền vững, thường là hoạch phát hoạch phá. Bởi vì Tuần Triệt mang ý nghĩa gây trục trặc cho quan trường. Gặp Triệt thì thăng giáng thất thường. Gặp Tuần thì khó lên danh nhưng lên rồi khó xuống. Tuần Triệt án ngữ đồng cũng thì công danh bình thường cho dù các yếu tố khác như Mệnh, Thân Phúc, Hạn,… tốt. Trường hợp có Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì tuy chậm nhưng công danh cũng tạm khá. Thường hoạt động trên lĩnh vực chính trị hoặc diễn giả. Nô Bộc Vô Chính Diệu Bạn bè và người giúp việc không bền, dễ ly tán, hay thay đổi, nô bộc vào ra liên tục. Gặp Tuần hoặc Triệt án ngữ thì tốt hơn, tôi tớ đắc lực hơn. Trước mướn người khó khăn, sau thì dễ hơn nhưng cũng không bền. Hung sát tinh độc thủ, tôi tớ rất đắc lực nhưng thường hay lấn chủ. Bạn bè tài giỏi, làm ăn táo bạo, thường không lộ mặt. Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu tốt đẹp, được bạn bè giúp đỡ, bạn bè khá giả, người làm có năng lực. Thiên Di Vô Chính Diệu Thiên Di Vô Chính Diệu thường thì không thể giàu có lớn được. Ra ngoài dễ bị chi phối bởi môi trường, ngoại cảnh. Dễ bị môi trường hoàn cảnh con người bên ngoài lấn át, không nhận được nhiều sự hỗ trợ. Hung sát tinh độc thủ, ra ngoài dễ tai nạn tai ách, lừa gạt, cướp giật. Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu thì tốt đẹp, gặp thuận lợi khi ra ngoài. Thiên Di không có chính tinh đương số có xu hướng ở nơi bản quán quê hương lập nghiệp hơn là xuất ngoại. Xem thêm 7 Dấu Hiệu Phân Biệt Người Có Vong Nhập, Ma Nhập Và Bệnh Tâm Thần Thông Thường Tật Ách Vô Chính Diệu Ít bệnh tật tai họa nhưng tai họa đến thì khó tránh khỏi. Tuần Triệt án ngữ tốt, ít bệnh tật, tai họa. Tài Bạch Vô Chính Diệu Tài Vô Chính Diệu thì tiền bạc tài chính không đều đặn, lúc có lúc không. Tài lộc không bền vững, không thể giàu có lớn được, vất vả vì tiền bạc. Nếu Tuần Triệt án ngữ thì ban đầu thường khó khăn về tiền bạc. Sau mới thuận lợi nếu được nhiều sao tốt hội chiếu nhưng cũng không thể giàu có lớn được. Nếu rơi vào trường hợp có hung tinh đắc địa độc thủ thì hoạch phát hoạch phá, không bền, chỉ có một giai đoạn. Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu là tốt đẹp, nhiều tiền của về hậu vận. Tử Tức Vô Chính Diệu Tử Tức Vô Chính Diệu thì hiếm con, ít con, chậm con, hoặc không nhờ cậy được con, hoặc con đầu lòng sinh ra khó nuôi, hay lo lắng vất vả đường con cái. Tuần Triệt án ngữ thường chậm có con hoặc sinh con ban đầu khó nuôi. Hung tinh đắc địa độc thủ, con cái khó nuôi con hoặc muộn sinh con. Con cái không hợp với cha mẹ. Có Nhật Nguyệt chiếu thì con cái học hành giỏi dang. Phu thê Vô Chính Diệu Người có lá số tử vi cung Phu Thê Vô Chính Diệu thường lập gia đình chậm trễ, tình duyên không thuận. Hoặc hay thay đổi đối tượng, chóng chán, không yêu ai mặn nồng, yêu cũng chỉ trong một giai đoạn. Nếu lập gia đình sớm dễ bị hình khắc. Không được nhờ vợ/chồng, phải tự lo toan quán xuyến việc nhà. Hung sát tinh độc thủ, cả hai tuy cương cường, đảm đang nhưng không hoà thuận, dễ hình khắc hoặc chia ly. Nhật sáng sủa hội chiếu, vợ chồng tốt đẹp. Nhưng nếu có Nhật Nguyệt đóng cùng thì vợ chồng không nhường nhịn, thường hay tìm cách lấn nhau. Gặp Tuần Triệt án ngữ lại bị trục trặc trắc trở ban đầu về tình duyên, lập gia đình sớm dễ đổ vỡ. Huynh Đệ Vô chính Diệu Thường không ở gần anh chị em, không được nhờ cậy, anh em ly tán nếu cung Huynh Đệ Vô Chính Diệu. Tuần Triệt án ngữ thì tốt hơn, anh em khá giả về hậu vận, còn tiền vận thì long đong. Nhật Nguyệt sáng sủa hội chiếu, anh em thương nhau, gặp Tuần Triệt án ngữ thì càng tốt hơn. Hạn Vô Chính Diệu Trường hợp đại hạn hoặc tiểu hạn trên lá số Tử Vi Vô Chính Diệu thì vận đó mọi sự đều không cảm thấy ưng ý. Không thể phát trong giai đoạn này được, thường có nhiều sự thay đổi về công việc, nơi ở,… Thường tránh mưu sự lớn trong giai đoạn này. Xem thêm Hội Những Người Thuộc Cung Song Tử Chính Xác Nhất, Cung Song Tử Các cung vô chính diệu như nhà không có nóc. Nếu không đủ bộ đủ cách và gia hội thêm sát bại tinh thì xấu, kém, cần phải hóa giải. Kỹ thuật luận đoán cung Vô chính diệu rất khó, trên đây chỉ là đôi điều đơn giản để bạn đọc dễ hình dung. Còn tùy thuộc cụ thể từng lá số mới có lời giải đoán chính xác. Cung vô chính diệu nào cũng có cách hóa giải, biết chế khắc điểm yếu, biến nó thành điểm mạnh mới là đỉnh cao xem mệnh qua lá số Tử Vi.

cung huynh đệ vô chính diệu